vanban.org

Bản án 09/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Tuyên án 16/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/12/2019.

Xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy: Toàn bộ số pháo hoàn trả mẫu vật sau giám định cùng 01 tùng hộp cattong màu vàng nâu, kích thước (36x25x23) cm và 01 thùng hộp cattong màu vàng hình hộp chữ nhật bên…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T phạm tội "Tàng trữ hàng cấm" theo điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/12/2019.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIAO THỦY
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2020/HS-ST
Ngày: 16-01-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Giao.

Ông Trần Hà Bắc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2020/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T, sinh ngày 06/01/2001 tại xã P, huyện T1, tỉnh S; nơi ĐKHKTT: Bản T2, xã P, huyện T1, tỉnh S; nơi cư trú: Kiốt số 57, khu du lịch Q, thị trấn Q, huyện G, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T3, sinh năm 1969 và bà Ngô Thị M, sinh năm 1970; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2019 cho đến nay; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định.

Người làm chứng:

1. Anh Cao Văn L, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn Q, huyện G, tỉnh N.

2. Chị Phạm Thị B, sinh năm 1989; nơi làm việc: Bưu cục giao hàng tiết kiệm huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định - Tổ dân phố 4A, thị trấn N1, huyện G, tỉnh N.

3. Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1990; địa chỉ: Xóm 5, xã G1, huyện G, tỉnh N.

Tại phiên tòa: Bị cáo có mặt; người làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có nhu cầu đốt pháo nổ trong dịp tết nguyên đán, đầu tháng 12/2019, Nguyễn Thanh T đã sử dụng tên Chu Xuân Tr với số điện thoại 0869.650.200; địa chỉ: Kiốt 57, khu du lịch Q, thị trấn Q, huyện G, tỉnh N và tài khoản Zalo là “Phiêu” để liên lạc và đặt mua của 01 đối tượng có số điện thoại là 0985.001.581 với tài khoản Zalo là “Pháo hoa” 05 (năm) hộp pháo dàn gồm 36 quả/dàn với giá 1.000.000 đồng/1 hộp. Hai bên thỏa thuận sẽ chuyển pháo thông qua dịch vụ chuyển phát và T sẽ thanh toán tiền khi nhận được số pháo trên cho nhân viên chuyển phát. Ngày 09/12/2019, đối tượng bán pháo cho T đã sử dụng tài khoản “shop flower 2019” đã đăng ký sẵn trên hệ thống của Công ty cổ phần giao hàng tiết kiệm gửi 05 hộp pháo cho T tại bưu cục Trảng Dài, tỉnh Đồng Nai; số pháo trên được đóng trong một thùng cattong màu vàng, dán kín bằng băng dính, bên ngoài ghi “loa vi tính” và thông tin địa chỉ mà T cung cấp. Đến ngày 12/12/2019, thùng hàng trên đã được chuyển đến kho hàng của bưu cục giao hàng tiết kiệm huyện Giao Thủy và nhân viên bưu cục đã gọi điện thông báo cho T nhận hàng. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 13/12/2019, Nguyễn Thanh T gọi xe taxi của anh Cao Văn L nhờ anh L chở đến kho hàng của bưu cục giao hàng tiết kiệm huyện Giao Thủy tại tổ dân phố 4A, thị trấn Ngô Đồng, huyện Giao Thủy để lấy số pháo trên. Khi đến nơi, T một mình vào kho gặp chị Phạm Thị B là điều phối viên của bưu cục để lấy số pháo mà mình đã đặt mua và trả cho chị B tổng số tiền 5.117.000 đồng (gồm 5.000.000 đồng tiền pháo và 117.000 đồng tiền phí vận chuyển). Sau khi lấy số pháo trên, T lên xe rồi bảo anh L chở về kiốt 57, khu du lịch Q. Khi đến khu vực cầu Diêm, thị trấn Ngô Đồng thì bị tổ công tác của đội Cảnh sát giao thông

- Công an huyện Giao Thủy phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác đã thu giữ của T 01 thùng cattong bên trong có 05 hộp pháo niêm phong ký hiệu A, T khai nhận số pháo trên là của T mua về với mục đích để đốt trong dịp tết nguyên đán. Ngoài ra, tổ tuần tra còn thu giữ của T 01 điện thoại di dộng Iphone 6 plus có số thuê bao 0869.650.200 và số tiền 930.000 đồng. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra còn thu giữ của Bưu cục giao hàng tiết kiệm huyện Giao Thủy 5.000.000 đồng là số tiền T đã trả tiền mua pháo.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm pháp của mình như đã nêu trên.

Ngày 14/12/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy đã đưa toàn bộ số pháo đã thu giữ của Nguyễn Thanh T đi giám định. Tại bản kết luận giám định số: 1133/KTHS ngày 15/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định đã kết luận: “Mẫu ký hiệu A là pháo, có đặc tính của pháo nổ (chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), tổng khối lượng là 6,656 kg”.

Bản cáo trạng số: 05/CT-VKS ngày 02/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi cất giấu trái phép 05 hộp pháo dàn, tổng khối lượng là 6,656 kg để sử dụng (đốt). Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo chưa có vợ, không có tài sản gì, là lao động tự do thu nhập không ổn định, nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số pháo hoàn trả mẫu vật sau giám định và thùng cattong chứa pháo; tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 5.000.000 đồng và điện thoại Iphone 6 plus; trả lại cho Nguyễn Thanh T số tiền 930.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Thanh T nói lời sau cùng: Bị cáo trình bày bản thân nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép pháo nổ của mình là phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được miễn hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Mặc dù biết Nhà nước cấm buôn bán, vận chuyển, tàng trữ và đốt pháo nổ nhưng đầu tháng 12/2019, Nguyễn Thanh T đã đặt mua qua Zalo của người dùng có tên tài khoản là “Pháo hoa”, số điện thoại là 0985.001.581 05 (năm) hộp pháo dàn 36 quả/dàn. Ngày 13/12/2019, Nguyễn Thanh T đã nhận được số pháo này tại bưu cục giao hàng tiết kiệm huyện Giao Thủy, trên đường mang số pháo về thì bị bắt quả tang, bị cáo khai mua pháo về cất giấu để đốt. Tại bản kết luận giám định số:1133/KTHS ngày 15/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định đã kết luận: “Mẫu ký hiệu A là pháo, có đặc tính của pháo nổ (chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), tổng khối lượng là 6,656 kg”. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của của bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước trong sản xuất và quản lý pháo, ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế của mỗi gia đình, gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Do đó cần phải xử lý nghiêm áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, để giáo dục riêng đối với bị cáo và góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[3] Khi quyết định hình phạt, HĐXX xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo như sau:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy Bị cáo chưa có vợ, không có tài sản gì, là lao động tự do thu nhập không ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số pháo hoàn trả mẫu vật sau giám định cùng 01 tùng hộp cattong màu vàng nâu, kích thước (36x25x23) cm và 01 thùng hộp cattong màu vàng hình hộp chữ nhật bên ngoài được dính bằng băng dính màu vàng và được dán một số tem nhãn giaohangtietkiem.vn.

Đối với số tiền 5.000.000 đồng là tiền T trả tiền mua pháo nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước. Đối với chiếc điện thoại Iphone 6 plus, màu trắng hồng, số IMEI: 3557.2807.7855.515, cài sim thuê bao 0869.650.200, tình trạng đã qua sử dụng là phương tiện T sử dụng để liên lạc giao dịch mua pháo nên tịch thu hoá giá sung Ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 930.000 đồng thu giữ của bị cáo T, quá trình điều tra, xác minh xác định đây là số tiền hợp pháp của T không liên quan đến hành vi phạm tội nay trả lại số tiền này cho bị cáo.

Đối với Công ty giaohangtietkiem.vn, quá trình điều tra chưa xác định các nhân viên tiếp nhận và giao thùng hàng cho bị cáo Nguyễn Thanh T biết trong thùng hàng có chứa pháo nổ nên chưa có căn cứ để xử lý. Nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Giao Thuỷ đã tách ra để tiếp tục điều tra và có biện pháp xử lý sau.

Về nguồn gốc số pháo nổ thu giữ của Nguyễn Thanh T, qua tài liệu do Công ty cổ phần giao hàng tiết kiệm cung cấp, đối tượng sử dụng số điện thoại 0985.001.581 với tài khoản Zalo là “Pháo hoa” có đăng ký tài khoản trên hệ thống giao hàng tiết kiệm đã bán cho T số pháo trên, có tên đăng ký: Bùi Tuấn A1, địa chỉ Big C, P. B1, TP B2, tỉnh Đ. Cơ quan CSĐT Công an huyện Giao Thuỷ đã tiến hành điều tra, xác minh tuy nhiên chưa có kết quả nên đã tách ra để tiếp tục điều tra và có biện pháp xử lý sau là phù hợp.

Đối với anh Cao Văn L là người lái xe taxi chở Nguyễn Thanh T, quá trình điều tra xác minh L không biết việc T cất giấu pháo nổ trên xe của mình nên vấn đề xử lý không đặt ra.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật

hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/12/2019.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu cho tiêu hủy: Toàn bộ số pháo hoàn trả mẫu vật sau giám định cùng 01 tùng hộp cattong màu vàng nâu, kích thước (36x25x23) cm và 01 thùng hộp cattong màu vàng hình hộp chữ nhật bên ngoài được dính bằng băng dính màu vàng và được dán một số tem nhãn giaohangtietkiem.vn.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 5.000.000 đồng.

Tịch thu chiếc điện thoại Iphone 6 plus, màu trắng hồng, số IMEI: 3557.2807.7855.515, cài sim thuê bao 0869.650.200, hoá giá sung ngân sách Nhà nước.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh T số tiền 930.000 đồng.

(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 03/01/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).

3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thanh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Nguyễn Thanh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ