- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn T - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 135 Bộ luật tố dụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố dụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
T
N NH N N
C N H
H CH N H V T N M HU N CH
CH
c p - T do - H nh ph c
TỈNH BẾN TRE
_____________ Bản án số: 09/2020/HS - ST
Ngày 23 - 4 - 2020
NHÂN DANH
NƢỚC C N HOÀ
H CH N H V T N M
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HU N CH
CH, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm ph n - h t phi n t : Ông Nguyễn Chí Đức.
c Hội thẩm nh n d n:
1. Ông Nguyễn Văn Tùng.
2. Bà Huỳnh Thị Kim Trúc Ly.
- Thư ký phi n t : Ông Dương Ngọc Tú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm s t nh n d n huyện hợ L ch, tỉnh Bến Tre th m gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bé - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2020/TLST - HS ngày 12 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2020/QĐXXST - HS ngày 02 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:
ƣơng Văn T - Sinh năm: 1974.
Nơi sinh: tỉnh Vĩnh Long.
Nơi cư trú: ấp T P, xã T B, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12.
Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Dương Văn N và bà Khấu Thị Đ.
Có vợ (đã ly hôn) và có 01 người con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 10/2020/HSST- LCĐKNCT ngày 12 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hoàng T - Sinh năm: 1994; nơi cư trú: ấp B A, thị trấn C L, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, vắng mặt - có đơn xin vắng mặt.
* Người làm chứng:
1. Anh Lê Tấn P - Sinh năm: 1965; nơi cư trú: k p 2, thị trấn C L, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, vắng mặt.
2. Ông Đoàn Anh D - Sinh năm: 1962; nơi cư trú: k p2, thị trấn C L, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, vắng mặt.
3. Bà Lê Thị N - Sinh năm: 1964; nơi cư trú: k p2, thị trấn C L, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, vắng mặt.
4. Anh Lê Thanh T - Sinh ngày 25/12/2002; nơi cư trú: k p 2, thị trấn C L, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, vắng mặt.
5. Chị Huỳnh Thị T - Sinh năm: 1977; nơi ĐKHKTT: ấp S Q, thị trấn C L, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; (chị T đồng thời là người đại diện hợp pháp cho anh Lê Thanh T), có mặt.
N
UN VỤ N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ, ngày 27 tháng 8 năm 2019, sau khi uống rượu. Dương Văn T rủ bạn về phòng trọ của vợ là Huỳnh Thị T tại k p 2, thị trấn C L, huyện Chợ Lách để tiếp tục uống rượu.
Đến khoảng 21 giờ 50 phút cùng ngày, ông Đoàn Anh D là chủ nhà trọ gọi điện thoại nhắc nhỡ chị T khuya rồi nên nghỉ uống rượu, nhưng đến khoảng 22 giờ 00 phút ông D vẫn thấy chưa nghỉ nên tiếp tục gọi điện nhắc nhỡ chị T một lần nữa, sau đó bạn của T ra về.
Tức giận vì ông D gọi điện thoại cho chị T nên T chửi, ông D mới đi qua để nói chuyện thì hai bên thách thức với nhau, chị T sợ xảy ra đánh nhau nên kéo T vào nhà rồi đóng cửa lại. T tiếp tục chửi ông D và dùng tay đập vào cửa. Lúc này ông D gọi điện thoại báo với Công an thị trấn C L về việc T uống rượu say gây mất trật tự tại phòng trọ của ông.
Nhận được tin báo, Ban chỉ huy Công an thị trấn C L phân công anh Nguyễn Hoàng T là Công an viên thường trực và anh Lê Tấn P là Công an viên phụ trách khu phố 2 đến giải quyết vụ việc. Khi thực hiện nhiệm vụ anh T có mặc trang phục Công an theo quy định đến hiện trường trực tiếp gặp T và xưng mình là Công an thị trấn C L khuyên T đã mệt thì nghỉ ngơi, không nên gây mất trật tự nữa, T không chấp hành mà tiếp tục la chửi lớn tiếng, nên anh T mời T về trụ sở Công an làm việc. T không chấp hành mà có hành vi chống đối và dùng tay đánh vào vùng mặt của anh T một cái gây thương tích, sau đó T bị khống chế và đưa về trụ sở Công an huyện Chợ Lách để làm việc.
Tại giấy chứng nhận thương tích số: 37/CN ngày 16/10/2019 của Trung tâm y tế huyện Chợ Lách xác định thương tích của anh Nguyễn Hoàng T là môi trên bên trái nề bầm đường kính khoảng 03cm.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 279-1019/TgT ngày 25/10/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Bến Tre kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra cho anh Nguyễn Hoàng T là 00%.
Cáo trạng số: 10/CT - VKSCL ngày 11/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre đã quyết định truy tố bị cáo Dương Văn T về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 điều 330 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Chống người thi hành công vụ” .
Áp dụng khoản 1 Điều 330, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi liên quan không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Vụ án không có vật chứng.
NHẬN ỊNH C T
N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, có đủ cơ sở xác định các hành vi, quyết định này là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
Đối với việc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Hoàng T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra đã làm việc với anh Tuấn và anh không có yêu cầu gì nên sự vắng mặt của anh không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và việc xét xử vắng mặt anh là phù hợp với quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Anh T được công nhận là Công an viên Thường trực thị trấn C L theo Quyết định số: 17/QĐ - UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn C L, huyện Chợ Lách và anh được phân công trực vào các buổi tối trong tháng 8/2019.
Với động cơ không chính đáng, mục đích nhằm cản trở anh Nguyễn Hoàng T thực thực hiện nhiệm vụ “Xử lý tin báo về an ninh tật tự trên địa bàn thị trấn C L”, vào tối ngày 27/8/2019, thời điểm này bị cáo Dương Văn T (là người có hành vi rây mất an ninh, tật tự) đã có hành vi dùng tay đánh vào vùng mặt của anh T gây chấn thương ở vùng môi trên bên phải nhưng không gây tỷ lệ thương tật.
[3] Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi mà bị cáo thực hiện không những gây mất an ninh trật tự mà còn gây cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ tại địa phương, gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân, đồng thời còn thể hiện tính hung hãn và xem thường pháp luật của bị cáo.
Bản thân bị cáo nhận thức được việc cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách truy tố bị cáo về tội: “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Trong lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo cho rằng do có uống nhiều rượu nên bị cáo không nhớ nội dung sự việc. Mặc dù không nhớ sự việc đã xảy ra nhưng bị cáo không chối tội, bị cáo vẫn thừa nhận hành vi mà bị cáo đã thực hiện, từ đó cho thấy bị cáo có thành khẩn khai báo. Tại phiên tòa bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo đang làm thuê và nuôi con nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử sẽ có cân nhắc đối với hình phạt của bị cáo trong lượng hình.
Đối với việc xin cho bị cáo được hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống bình thường của xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú kết hợp với gia đình giám sát, giáo dục cải tạo bị cáo như đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Người có quyền lợi liên quan không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
[5] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì c c lẽ tr n,
QU ẾT ỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
Căn cứ khoản 1 Điều 330, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (ngày 23/4/2020).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T B, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long kết hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp trong thời gian thử thách mà bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hính sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về tr ch nhiệm d n sự: Người có quyền lợi liên quan không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
3. Về n phí: Áp dụng các điều 135, 136 Bộ luật tố dụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kh ng c o: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Chợ Lách; - VKSND tỉnh Bến Tre; - Công an huyện Chợ Lách; - TAND tỉnh Bến Tre; - Chi cục THADS huyện Chợ Lách; - Sở Tư pháp; - Những người TGTT; - Lưu hsva, THAHS, vp. | TM. H ỒN ÉT Ử SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Chí ức |