vanban.org

Bản án 09/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 04/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tô Đình L (Chu Văn L) 18 tháng tù.

Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của ba bản án là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 02/12/2019 (thể hiện tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2020/HS-ST ngày 13/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn). Hình…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Đình L phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tô Đình L (Chu Văn L) 18 tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH GIA
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2020/HS-ST
Ngày 04-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nông Thị Mỹ Phước

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lương Mạnh Dũng

Ông Dương Công Trang

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trương Thị Hợi - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Kiều - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 11/2020/TLST-HS, ngày 25 tháng 03 năm 2020. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2020/QĐXXST-HS, ngày 22 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Tô Đình L, (Chu Văn L) sinh ngày 25 tháng 6 năm 1980 tại: Tràng Định, Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Đình  (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1(Nguyễn Thu T - đã chết); vợ là Đồng Thị Nhàn, sinh năm 1979 (chung sống với nhau, không đăng ký kết hôn) và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không. Về nhân thân: Bản án số: 17/2017/HS-ST ngày 01/03/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 06 (sáu) tháng tù giam về tội Hủy hoại và cố ý làm hư hỏng tài sản, đã được xóa án tích; Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2020/HS-ST ngày 13/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 (hai) năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Bản án đã có hiệu lực pháp luật; Bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2020/HS-ST ngày 25/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bản án đã có hiệu lực pháp luật.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/12/2019 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, thể hiện tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2020/HS-ST ngày 13/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam Yên Trạch, Công an tỉnh Lạng Sơn. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Hoàng Ngọc T2, sinh năm 1960; trú tại: thôn N, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; có mặt

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Hoàng Thị N, sinh năm 1967; trú tại: thôn N, xã H, huyện B tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

2. Anh Hoàng Minh H2, sinh năm 1996; vắng mặt.

3. Ông Hoàng Văn C, sinh năm 1966; vắng mặt.

Cùng trú tại: khối phố 3, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 21/10/2019 Tô Đình L đi vào nhà bà Hoàng Thị N chơi. Trong khi uống nước Tô Đình L thấy ở trong sân nhà có một xe mô tô, chìa khoá cắm sẵn ở ổ khóa liền nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe, nhân cơ hội không ai để ý Tô Đình L đến gần ngồi lên xe mở khóa và điều khiển xe đi ra thị trấn B. Đến thị trấn B, Tô Đình L vào cửa hàng tạp hóa của anh Nguyễn Văn Đ, dừng xe trước cửa nhưng không rút chìa khóa rồi vào cửa hàng để mua bánh, nước uống, lúc này trước cửa hàng có khoảng 5-6 chiếc xe mô tô dựng trước cửa, khi quay ra thấy có hai chiếc xe mô tô dựng gần nhau có đặc điểm giống nhau đều cắm chìa khóa ở ổ khóa điện, không phân biệt được chiếc xe nào vừa trộm được nên Tô Đình L bước đến chiếc xe gần nhất lấy xe và điều khiển đi đến thị trấn Bắc Sơn, trên đường đi dừng lại kiểm tra xăng thì thấy trong cốp xe có 01 ví da màu đen, có khoảng 200.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có nhiều mệnh giá khác nhau và một số giấy tờ. Biết đã lấy nhầm xe mô tô của người khác nên Tô Đình L lấy tiền, còn giấy tờ để vào trong cốp và để xe ở cạnh đường, rồi đón xe khách đi về thị trấn Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo Tô Đình L khai nhận: Sáng ngày 21/10/2019 Tô Đình L một mình điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12T1-0586.57 trộm được ở huyện T đi thị trấn B, huyện B, sau đó đi đến nhà một người quen tại xã H, huyện B chơi, do người quen không có nhà nên Tô Đình L vào nhà bà Hoàng Thị N (chồng là ông Hoàng Ngọc T2) chơi. Lúc này khoảng 13 giờ cùng ngày, chỉ có bà Hoàng Thị N ở nhà, trong khi uống nước Tô Đình L biết chiếc xe trộm được ở huyện T đã hết xăng nên quan sát xung quanh, thấy ở trong sân nhà có một xe mô tô chìa khoá vẫn cắm ở ổ khóa xe, Tô Đình L liền nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe nhà bà Hoàng Thị N để làm phương tiện đi lại, nhân lúc không ai để ý Tô Đình L đến gần chiếc xe, ngồi lên xe mở khóa và điều khiển đi ra thị trấn Bình Gia, trên đường đi Tô Đình L dừng xe để kiểm tra, thấy xe vẫn còn xăng, trong cốp không có đồ vật tài liệu gì. Đến thị trấn B, Tô Đình L vào cửa hàng tạp hóa của anh Nguyễn Văn Đở Khối phố 3 thị trấn B, để mua bánh, nước uống lúc này trước cửa hàng tạp hóa có khoảng 5-6 chiếc xe mô tô dựng trước cửa quán, Tô Đình L dừng xe nhưng không rút chìa khóa, khi mua bánh và nước quay ra thấy có hai xe mô tô có đặc điểm giống nhau đều cắm chìa khóa xe ở ổ khóa điện, không phân biệt được chiếc xe nào vừa trộm được ở nhà bà Hoàng Thị N nên Tô Đình L bước đến chiếc xe gần nhất lấy một xe và điều khiển đi theo hướng B – B, đến thị trấn B dừng lại mở cốp để kiểm tra xăng thì thấy trong cốp xe có 01 ví da màu đen, có khoảng 200.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 01 đăng ký xe mô tô mang tên Hoàng Văn C, 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe mang tên Hoàng Minh H. Biết đã lấy nhầm xe mô tô của một người Công an, nên Tô Đình L lấy toàn bộ tiền trong ví, để lại giấy tờ vào trông cốp và xe mô tô ở cạnh đường, rồi đón xe khách đi về thị trấn C, tỉnh Hải Dương. Đến ngày 02/12/2019 thì Tô Đình L về nhà tại thị trấn Thất Khê, huyện Tràng Định thì bị Công an huyện Tràng Định bắt giữ.

Tại Bản kết luận số: 01/KL- HĐĐGTS 10/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bình Gia kết luận: Giá trị tài sản bị trộm cắp là: 9.050.000 đồng (chín triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

Bản cáo trạng số: 10/CT-VKS ngày 24/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Vật chứng thu giữ được: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HODA WAE RSX màu sơn đỏ - đen, biển kiểm soát 12B1- 056.60 mang tên Hoàng Ngọc T2.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên và khẳng định một mình bị cáo thực hiện việc trộm cắp chiếc xe mô tô nhằm mục đích để làm phương tiện đi lại. Đối với chiếc xe mô tô mà bị cáo lấy nhầm của anh Hoàng Minh H, trong cốp xe có một ví da đựng một số giấy tờ của anh Hoàng Minh H2 và số tiền khoảng 200.000 đồng, bị cáo đã lấy số tiền trên và đã chi tiêu hết vào việc đi lại, ăn uống khi về Hải Dương, còn chiếc xe mô tô bị cáo để lại ở cạnh đường.

Bị hại Hoàng Ngọc T2 khai: Ngày 21/10/2019 ông để xe chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12B1-056.60 ở nhà, cắm chìa khóa ở ổ khóa xe rồi ông đi công việc, đến 17 giờ 30 phút thì người nhà phát hiện mất xe mô tô. Sau khi sự việc xảy ra, gia đình báo Công an truy tìm thủ phạm xác định người trộm xe là Tô Đình L. Nay sự việc đã được Cơ quan điều tra làm rõ, Cơ quan điều tra trả lại cho ông chiếc xe mô tô, do vậy gia đình không có yêu cầu gì thêm. Về hình phạt đối với bị cáo: Đề nghị xử lý Tô Đình L thật nghiêm minh.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị N thống nhất với quan điểm và đề nghị của ông Hoàng Ngọc T2.

Anh Hoàng Minh H, ông Hoàng Văn C đều vắng mặt tại phiên tòa, nhưng trong các bản khai tại cơ quan điều tra anh Hoàng Minh H2và ông Hoàng Văn C khai: Ngày 21/10/2019 anh Hoàng Minh H2 điều khiển xe ra cửa hàng mua đồ dùng, dựng xe trước cửa hàng tạo hóa thì bị Tô Đình L lấy nhầm, nay đã tìm thấy và lấy lại được xe cùng toàn bộ số giấy tờ, do vậy ông Hoàng Văn C và anh Hoàng Minh H2 không yêu cầu đề nghị xử lý đối với Tô Đình L về hành vi lấy nhầm xe mô tô. Số tiền khoảng 200.000 đồng bị cáo đã chi tiêu hết nay anh Hoàng Minh H2 không yêu cầu trả lại, không đề nghị xem xét xử lý về hành vi lấy số tiền trên.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như bản Cáo trạng, đánh giá tính chất, động cơ, mục đích phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và phát biểu quan điểm, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tô Đình L phạm tội Trộm cắp tài sản.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; 50; 56; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tô Đình L từ 12 đến 18 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12B1-056.60 cho chủ sở hữu, do vậy không đề nghị xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận: Bị cáo xin được hưởng hình phạt thấp nhất của khung hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật, nhưng tại phiên tòa ông Hoàng Văn C và anh Hoàng Minh H2 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Tại phiên tòa, bị cáo Tô Đình L khai nhận hành vi phạm tội như tại cơ quan điều tra, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ. Các chứng cứ đó phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, hành vi của bị cáo, do đó có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 21/10/2019, Tô Đình L đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12B1-056.60 của ông Hoàng Ngọc T2, giá trị tài sản bị trộm cắp là 9.050.000 đồng. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thầy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, gián tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về lĩnh vực trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có thể chất phát triển bình thường, có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, biết rằng hành vi đó là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, để cá thể hóa hình phạt, Hội đồng xét xử đánh giá về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo như sau:

Xét về nhân thân: Bị cáo đã một lần bị Tòa án xét xử về tội Hủy hoại và cố ý làm hư hỏng tài sản đã được xóa án tích, hai lần bị Tòa án xét xử cùng về tội Trộm cắp tài sản, do vậy xác định bị cáo là người có nhân thân xấu.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và tài sản riêng, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo Tô Đình L đang chấp hành 02 (hai) năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2020/HS-ST ngày 13/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn và 12 (mười hai) tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2020/HS-ST ngày 25/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, hai bản án đã có hiệu lực pháp luật, nên phải tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HODA WAE RSX biển kiểm soát 12B1- 056.60 của bị hại là ông Hoàng Ngọc T2, quá trình điều tra bị hại có đơn xin trả lại tài sản để phục vụ việc đi lại, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô cho gia đình bị hại. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án gia đình bị hại ông Hoàng Ngọc T2, bà Hoàng Thị N đã nhận lại chiếc xe mô tô, chiếc xe không bị hư hỏng nên nay không có yêu cầu gì; Đối với chiếc xe mô tô mà bị cáo lấy nhầm của anh Hoàng Minh H2(chủ sở hữu là ông Hoàng Văn C) tại cửa hàng tạp hóa, sau khi phát hiện lấy nhầm xe bị cáo để lại xe ở bên cạnh đường, anh Hoàng Minh H2đã đến lấy lại xe và toàn bộ giấy tờ, còn số tiền khoảng 200.000 đồng bị cáo Tô Đình L đã lấy và chi tiêu hết cho bản thân, căn cứ quy định của pháp luật hành vi nêu trên chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm hình sự, nay anh Hoàng Minh H2không yêu cầu trả lại số tiền nêu trên, không yêu cầu xử lý hành vi lấy nhầm xe. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Ý kiến tranh luận của bị cáo xin được hưởng mức hình phạt thấp nhất, thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu, trong một thời gian ngắn bị cáo liên tiếp thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản, do đó mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, bị cáo xin giảm nhẹ là không có căn cứ chấp nhận.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; khoản 1 Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tô Đình L (Chu Văn L) phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tô Đình L (Chu Văn L) 18 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2020/HS-ST ngày 13/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn và 12 (mười hai) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2020/HS-ST ngày 25/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của ba bản án là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 02/12/2019 (thể hiện tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2020/HS-ST ngày 13/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn).

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Tô Đình L (Chu Văn L) phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (04/5/2020). Người có quyền lợi liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ