vanban.org

Bản án 09/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện A Lưới, TP. Huế Tuyên án 29/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Hồ Quang N đã có hành vi tàng trữ 03 viên ma túy loại Methamphetamine, khối lượng là 0,3097g - phạm tội tàng trữ trái phé…"
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A LƯỚI
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
___________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:09/2020/HS-ST
Ngày 29-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A LƯỚI, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Vĩnh.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Hồ Văn Ngoan.

- Bà Hồ Thị Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Tứ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện A Lưới.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 29/9/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A Lưới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2020/TLST-HS ngày 16/9/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2020/QĐXXST-HS ngày 17/9/2020 đối với:

Bị cáo H uang N, sinh ngày 15/01/1995,tại tỉnh Thừa Thiên Huế.

Nơi cư trú: Thôn Quảng T, xã Sơn T, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Lao đ ng tự do; Trình đ văn hoá: Lớp 9/12; Dân t c: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa Giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hồ Quang L, sinh năm: 1966 và bà Lê Thị M L, sinh năm: 1971; Vợ: chị Hoàng Thị Thanh T, sinh năm: 1995; con: Hồ Hoàng Gia L, sinh năm: 2015.Theo danh chỉ bản và lý lịch, bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Quá trình nhân thân:

Ngày 01/7/2012 bị Công an phư ng An Hòa, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền 75.000đ về hành vi gây mất trật tự khu dân cư. (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 41/QĐ-XPHC ngày 01/7/2012). Bị cáo đã chấp hành xong.

Ngày 30/01/2013 bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 (M t) năm tù về t i “Cướp giật tài sản” (Bản án số 02/2013/HSST ngày 30/01/2013 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà). Bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích.

Này 16/12/2015 bị Công an thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền 2.500.000đ về hành vi gây thương tích cho ngư i khác (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 44988/QĐ-XPHC, ngày 16/12/2015). Bị cáo đã chấp hành xong.

Bị cáo Hồ Quang N bị tạm giữ từ ngày 18/6/2020 và tạm giam từ ngày 24/6/2020 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Chị Hoàng Thị Thanh T, sinh năm: 1995; Địa chỉ: Thôn Quảng T, xã Sơn T, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

2. Ông Hoàng Văn N, sinh năm: 1969; Địa chỉ: Thôn Quảng T, xã Sơn T, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

3. Bà Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn Quảng T, xã Sơn T, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ngư i đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Bích L, là ông Hoàng Văn N. (Theo văn bản ủy quyền ngày 14/8/2020).Bà L vắng mặt, ông N có mặt.

Người làm chứng:

- Chị Trần Thị L, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ A, tổ dân phố Y, thị trấn L, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 gi 30 phút ngày 17/6/2020, bị cáo Hồ Quang N điều khiển xe mô tô số kiểm soát 75K1-3728 chạy trên đư ng Hồ Chí Minh từ thị trấn A Lưới về nhà của mình ở thôn Quảng T, xã Sơn T, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế. Khi đến khu vực bến xe thu c địa phận thôn P, xã N thì bị lực lượng chức năng gồm phòng Cảnh sát điều tra t i phạm về ma túy Công an tỉnh Thừa Thiên Huế, Công an huyện A Lưới và phòng Phòng chống ma túy và t i phạm B đ i Biên Phòng tỉnh Thừa Thiên Huế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ yêu cầu dừng xe, bị cáo Ng c không chấp hành mà thả xe, b chạy, lực lượng chức năng đã truy đuổi bắt được, đưa về trụ sở y ban nhân dân xã A Ngo, huyện A Lưới để làm việc. Qua quá trìnhkiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện túi quần sau bên trái mà bị cáo đang mặc có 03 (ba) viên nén màu đ , được gói trong mảnh nilong không màu (Nghi là ma túy). Nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện A Lưới đã tiến hành lập biên bản niêm phong, thu giữ và lập biên bản bắt ngư i phạm t i quả tang. Khám xét ngư i và phương tiện của N thu giữ thêm: 01 xe mô tô mang BKS 75K1-3728; 01 ví màu đen bên trong có: 01 giấy phép lái xe mang tên Hồ Quang N, 01 điện thoại di đ ng OPPO, 01 th ATM ngân hàng Agribank mang tên HO QUANG N, 01 th Bigxu, 01 t giấy bạc tương tự t m t đô la M và 749.000 đồng tiền Việt Nam.

Hồ Quang N khai nguồn gốc số ma túy trên, N mua của m t ngư i tên “L” không r tên tuổi địa chỉ tại thị trấn B, huyện H, tỉnh Quảng Trị cách đây khoảng 01 đến 02 năm để sử dụng, không bán cho ai.

Lúc 19 gi 05 phút ngày 17/6/2020,Công an huyện A Lưới tiến hành thử nhanh mẫu nước tiểu của Hồ Quang N thì phát hiện trong nước tiểu của Hồ Quang N cho kết quả TH 2 mục d xác định nước tiểu dương tính (có sử dụng) ma túy Amphetamin. Hồ Quang N đã khai nhận trước đó khoảng 03 – 04 ngày N đã sử dụng ma túy tại nhà.

Kết luận giám định 376/KLGĐ ngày 21/6/2020 của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế xác định: 03 viên nén đều có dạng hình trụ màu đ thu giữ trong túi quần phía sau bên trái của bị cáo N là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,3097g (Không phẩy ba không chín bảy gam).

Cáo trạng số:10/CT-VKS-HAL ngày 16/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện A Lưới đã truy tố bị cáo Hồ Quang Ng c về t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1, 5 Điều 249 B luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị H i đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249;điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 B luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Hồ Quang N từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung ở khoản 5 Điều 249 B luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số Methamphetamine còn lại sau khi giám định có khối lượng 0,1097g.

Hoàn trả lại 01 cái ví da màu đen; 01 điện thoại di đ ng OPPO; 01 Giấy phép lái xe mang tên Hồ Quang N, 01 th ATM ngân hàng Agribank mang tên HO QUANG N, 01 th Bigxu; 01 t giấy bạc tương tự t m t đô la M và 594.000 đồng tiền Việt Nam cho bị cáo Hồ Quang N.

Trả lại 01 xe mô tô Wave Alpha, nhãn hiệu Honda, màu xanh, biển kiểm soát 75K1 – 3728, đã qua sử dụng cho ông Hoàng Văn N và bà Nguyễn Thị Bích L.

Trả lại cho chị Hoàng Thị Thanh T số tiền 155.000đ, vì số tiền này N lấy tiền bán gà tại chị L về cho vợ Hoàng Thị Thanh T.

Bị cáo công nhận hành vi phạm t i của mình như Cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát, mong H i đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị trả lại xe máy cho ông Hoàng Văn N và trả số tiền 155.000đ bán gà cho chị T và giấy t của bị cáo theo pháp luật. Đồng th i N nêu lý do gia đình còn nhiều khó khăn đề nghị không phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 B luật Hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng của cơ quan điều tra và Điều tra viên Công an huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế; Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế trong quá trình, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật tố tụng Hình sự. Việc xác minh, thu thập vật chứng đúng trình tự, khách quan; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ngư i tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Bích L vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã ủy quyền cho chồng là ông Hoàng Văn N, được toàn quyền quyết định. Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến quá trình điều tra đã thu thập l i khai của bà L, sự vắng mặt của h không ảnh hưởng đến việc xét xử. Bị cáo và những ngư i tham gia tố tụng hôm nay đề nghị tiếp tục xét xử, H i đồng căn cứ khoản 1 Điều 292 B Luật Tố tụng hình sự vẩn tiến hành xét xử.

Các chứng cứ xác định có t i: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toànb hành vi phạm t i của mình, l i khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt ngư i phạm t i quả tang; vật chứng thu được; kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ đã thu giữ nên đủ cơ sở xác định: Khoảng 14 gi 30 phút ngày 17/6/2020, bị cáo Hồ Quang N đã có hành vi tàng trữ 03 viên ma túy loại Methamphetamine, khối lượng là 0,3097g nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Đây là chất ma túy Methamphetamine được quy định trong Danh mục II Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 và Nghị định 60/2020/NĐ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ, bị nghiêm cấm mua bán quy định ở khoản 2 Điều 3 Luật phòng, chống ma túy năm 2000 được sửa đổi bổ sung năm 2008. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của B luật hình sự 2015 sửa đổi năm 2017 đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện A Lưới đã truy tố.

Về tính chất, mức đ nguy hiểm của hành vi phạm t i, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, H i đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm t i của bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, xâm phạm chính sách đ c quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã h i, làm ảnh hưởng đến sức kh e con ngư i gây mất trật tự trị an ở địa phương. Do đó cần áp dụng mức án tương xứng với hành vi phạm t i của bị cáo. Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa bị cáo ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 B luật hình sự.

. Xét loại hình phạt áp dụng đối với bị cáo, H i đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân xấu đã bị xử phạt hành chính cũng như kết án, mặc dù đã chấp hành xong và đã được xóa án tích tuy nhiên bị cáo không xem đó là bài h c mà còn tiếp tục phạm t i khác. Bị cáo N biết r tác hại của ma túy là băng hoại giá trị, đạo đức con ngư i, suy kiệt giống nòi, nhưng vẫn tàng trữ để sử dụng có nguy cơ lây lan trong lớp tr ngày càng có diễn biến khó lư ng và phức tạp do đó cần áp dụng loại hình phạt tù có th i hạn, cách ly bị cáo ra kh i xã h i m t th i gian để đảm bảo răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Bị cáo Hồ Quang N đang bị tạm giam cần áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 329 B luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 tiếp tục giam bị cáo bảo đảm cho việc thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: H i đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 B luật hình sự đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Khối lượng 0,1097g ma túy Methamphetamine, còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 xe mô tô Wave Alpha, nhãn hiệu Honda, màu xanh, biển kiểm soát 75K1 – 3728 là tài sản thu c quyền sở hữu của vợ chồng ông Hoàng Văn N và bà Nguyễn Thị Bích L nên cần trả lại.

- Đối với 01 điện thoại di đ ng OPPO; 01 Giấy phép lái xe mang tên Hồ Quang N, 01 th ATM ngân hàng Agribank mang tên HO QUANG N, 01 th Bigxu; 01 t giấy bạc tương tự t m t đô la M , số tiền 594.000 đồng (VNĐ) của N không do buôn bán ma túy; số tiền 155.000đ của chị Hoàng Thị Thanh T và giấy t của bị cáo N nên trả lại cho bị cáo Hồ Quang N và Hoàng Thị Thanh T.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

UYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 106, 136 của B luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 38, Điều 47, điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của B luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thư ng vụ Quốc H i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Quang N phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt: Bị cáo Hồ Quang N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 18/6/2020.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 0,1097g ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định.

- Trả lại 01 (m t) xe mô tô Wave Alpha, nhãn hiệu Honda, màu xanh, số kiểm soát 75K1 - 3728 cho ông Hoàng Văn N và bà Nguyễn Thị Bích L.

- Trả lại 01 (m t)ví màu đen; 01 (m t) điện thoại di đ ng OPPO; 01 (m t) Giấy phép lái xe mang tên Hồ Quang N, 01(m t) th ATM ngân hàng Agribank mang tên HO QUANG N, 01 (m t) th Bigxu;01 (m t)t giấy bạc tương tự t m t đô la M và số tiền594.000đ (Năm trăm chín mươi tư nghìn đồng) cho bị cáo Hồ Quang N. Trả lạisố tiền 155.000đ (M t trăm năm mươi lăm nghìn đồng) cho chị Hoàng Thị Thanh T. (Số tiền nói trên hiện đang gửi tại kho bạc nhà nước huyện A Lưới).

Tình trạng, đặc điểm vật chứng được mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/9/2020 giữa Công an huyện A Lưới và Chi cục Thi hành án dân sự huyện A Lưới và biên bản giao nhận tài sản số 02/BBGB-KBNN ngày 25/6/2020 giữa Công an huyện A Lưới và Kho bạc nhà nước A Lưới.

4. Về án phí: Bu c bị cáo Hồ Quang N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ