- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hà Văn Q - Hoàng Thị V"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Anh Hà Văn Q được ly hôn chị Hoàng Thị V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09 /2020/HNGĐ-ST Ngày: 27- 4 – 2020 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Hoàng Kim Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Ngọc Thái
2. Ông Hoàng Văn Công
- Thư ký phiên tòa: Ông nguyễn Phú Duy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên toà: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 27 tháng 4 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Yên Bái mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 258/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2019 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:11/2020/QĐXX ST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2020 và thông báo mở lại phiên tòa số:08 /TB-TA ngày16 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Hà Văn Q - sinh năm 1990. Có đơn xin xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Chị Hoàng thị V – sinh năm 1987. Vắng mặt.
Cùng trú tại: Thôn 3 xã P, huyện Y, tỉnh Yên Bái.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 05-11-2019, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Hà Văn Q trình bày:
Về hôn nhân: Anh kết hôn với chị Hoàng Thị V trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y, tỉnh Yên Bái vào ngày 11/12/2014. Quá trình chung sống hạnh phúc bình thường đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do chị V bỏ nhà đi không có trách nhiệm với con cái và gia đình mặc dù anh Q cùng gia đình đôi bên đã khuyên bảo nhiều lần nhưng chị V không thay đổi và cả hai anh chị đã ly thân từ đầu năm 2019 cho đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay anh Q xác định tìm cảm vợ chồng không còn anh đề nghị tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị V.
Về con chung: Anh Hà Văn Q và chị Hoàng Thị V có hai con chung là Hà Duy L, sinh ngày 05-11-2014 và Hà Bảo A, sinh ngày 19-12-2016. Ly hôn anh Q có nguyện được nuôi dưỡng cháu là Hà Duy L và chị V nuôi dưỡng cháu Hà Bảo A không ai cấp dưỡng nuôi con chung .
Về chia tài sản và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị Hoàng Thị V không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, Tòa án không tiến hành hòa giải được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn là chị Hoàng Thị V có hộ khẩu thường trú tại xã P, huyện Y, tỉnh Yên Bái nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Y.
Anh Hà Văn Q có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Hoàng Thị V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Yên Bình xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Anh Hà Văn Q và chị Hoàng Thị V đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã P, huyện Y, tỉnh Yên Bái vào ngày 11/12/2014. là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án anh Q cho rằng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do chị V bỏ nhà đi không có trách nhiệm với con cái và gia đình mặc dù anh Q cùng gia đình đôi bên đã khuyên bảo nhiều lần nhưng chị V không thay đổi và cả hai anh chị đã ly thân từ đầu năm 2019 cho đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay anh Q xác định tìm cảm vợ chồng không còn anh đề nghị tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị V.
Mặc dù, chị V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn cố tình vắng mặt, thể hiện chị V không có thiện chí hòa giải. Từ đó có căn cứ cho thấy tình trạng hôn nhân giữa anh Hà Văn Q và chị Hoàng Thị V đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của anh Hà Văn Q là có căn cứ. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình để xử cho anh Hà Văn Q được ly hôn chị Hoàng Thị V.
Về nuôi con chung:
Anh Hà Văn Q và chị Hoàng Thị V có hai con chung là Hà Duy L, sinh ngày 05-11-2014 và Hà Bảo A, sinh ngày 19-12-2016. Ly hôn anh Q có nguyện được nuôi dưỡng cháu là Hà Duy L và chị Vui nuôi dưỡng cháu Hà Bảo A không ai cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay hai cháu đang sinh sống cùng gia đình anh Q ổn định mặt khác trong quá trình giải quyết tại tòa án chị V không có mặt, nên không thể hiện được nguyện vọng của mình về con chung do đó để bảo đảm quyền lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên xét cần giao cả hai cháu cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng các cháu cho đến khi các cháu dủ 18 tuổi là phù hợp với quy định của pháp luật .
Về chia tài sản và nợ chung: Anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Anh Hà Văn Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 147; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
1. Về hôn nhân: Anh Hà Văn Q được ly hôn chị Hoàng Thị V.
2. Về nuôi con chung: Giao hai cháu là Hà Duy L , sinh ngày 05-11-2014 và Hà Bảo A, sinh ngày 19-12-2016 cho anh Hà Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Chị Hoàng Thị V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh Hà Văn Q phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai số 0002718 ngày 04-12-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Bình (Xác nhận anh Q đã nộp đủ).
Anh Hà văn Q được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Chị Hoàng Thị V được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tØnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKSND huyÖn Yªn B×nh;
- THA d©n sù huyÖn Yªn B×nh;
- C¸c ® ¬ng sù;
- UBNDxã phúc Ninh,h Yên bình;
- L u HS,TA.
(đã ký)
Hoàng Kim Sơn HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tØnh; - VKSND huyÖn Yªn B×nh; - THA d©n sù huyÖn Yªn B×nh; - C¸c ® ¬ng sù; - UBND xã Tích Cốc; - L u HS,TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Thanh Nga |