- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị K - Bùi Thành T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 56; 81; 82; 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2020/HNGĐ - ST Ngày 16/9/2020 V/v: “xin ly hôn và tranh chấp nuôi con chung’’ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Xuân Tưởng
Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Luận.
2. Bà Hà Thị Quế.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Duy, cán bộ Toà án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2020. Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoa Lư tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 64/2020/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2020 về việc: “xin ly hôn và tranh chấp nuôi con chung’’. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2020/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị K, sinh năm 1990.
Trú tại: thôn C, xã Tr, huyện H, tỉnh N.
2. Bị đơn: Anh Bùi Thành T, sinh năm 1990.
Trú tại: thôn C, xã Tr, huyện H, tỉnh N.
Có mặt tại phiên toà: Chị K, vắng mặt anh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Bùi Thị K trình bày: Chị và anh Bùi Thành T, sinh năm 1990, trú tại: thôn C, xã Tr, huyện H, tỉnh N, kết hôn với nhau từ tháng 10 năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tr, huyện H, tỉnh N. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại gia đình nhà chồng ở thôn C, xã Tr, huyện H, tỉnh N, được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T không tu chí làm ăn, thường xuyên chơi lô, đề cờ bạc, rượu chè dẫn đến nợ nần nhiều. Bản thân chị K cũng như gia đình nhà chồng đã nhiều lần trả nợ cho anh T, nhưng anh T vẫn chứng nào tật ấy không từ bỏ lô, đề cờ bạc tu trí làm ăn, xây dựng hạnh phúc gia đình, nên vợ chồng đã nhiều lần xảy ra đánh cãi chửi nhau trong suốt một thời gian dài. Đến tháng 7/2020 chị K đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống ở thôn C, xã Tr từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, quan hệ hôn nhân chỉ còn trên danh nghĩa. Nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Thành T để ổn định cuộc sống. Về con chung vợ chồng có với nhau hai người con chung tên là Bùi Anh H, sinh ngày 26/5/2011 và Bùi Minh Th, sinh ngày 06/3/2014. Tại phiên tòa hôm nay, chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên là Bùi Minh Th, còn anh T nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên là Bùi Anh H, hai bên không phải đóng góp tiền nuôi con chung cho nhau. Về tài sản và công nợ chung vợ chồng không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án anh Bùi Thành T trình bày: Anh và chị Bùi Thị K, sinh năm 1990 sinh trú quán: thôn C, xã Tr, huyện H, tỉnh N xây dựng gia đình với nhau từ tháng 10 năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tr. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại gia đình nhà anh T ở thôn C, xã Tr, huyện H, tỉnh N, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc với nhau một thời gian dài. Sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu cũng chỉ vì kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, bản thân anh T thi thoảng có chơi bời, rượu chè và có nợ nần, nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau, đến ngày 07/7/2020 vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn cũng chỉ vì kinh tế gia đình cũng như trong sinh hoạt gia đình, nên chị K đã tự ý về nhà bố mẹ đẻ ra chị K sinh sống từ đó cho đến nay, anh T đã nhiều lần đến nhà chị K xin lỗi, làm lành để vợ chồng về đoàn tụ gia đình cùng nhau nuôi dạy con chung, nhưng chị K không muốn chung sống cùng anh T nữa. Nay chị K xin ly hôn anh T không đồng ý, vì anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn. Về con chung nếu như chị K nhất quyết ly hôn, thì anh T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, con chung tên là Bùi Anh H sinh ngày 26/5/2011, chị K trực tiếp nuôi dưỡng, con chung tên là Bùi Minh Th, sinh ngày 06/3/2014, hai bên không phải đóng góp tiền nuôi con chung cho nhau. Về tài sản anh Bùi Thành T xác định vợ chồng không có tài sản chung.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư: Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng. Về nội dung: Sau khi xem các tài liệu có tại hồ sơ, nghe chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa chị K và anh T. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do anh T không chịu làm ăn thường hay chơi lô đề cờ bạc dẫn đến nợ nần, nên vợ chồng hay xảy ra đánh cãi chửi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết được, chị K đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ đầu tháng 7/2019 không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa, vì vậy tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, hôn nhân chỉ tồn tại trên danh nghĩa, không thể hàn gắn được. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện xử cho ly hôn giữa chị Bùi Thị K với anh Bùi Thành T. Về con chung giao cho chị K trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung tên là trực tiếp nuôi dưỡng, con chung tên là Bùi Minh Th, sinh ngày 06/3/2014, anh T trực tiếp nuôi dưỡng, con chung tên là Bùi Anh H sinh ngày 26/5/2011 hai bên không phải đóng góp tiền nuôi con chung cho nhau. Về án phí: Chị K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Bùi Thành T trú tại: thôn C, xã Tr, huyện H, tỉnh N. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của bộ luật tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị K thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị K và anh Bùi Thành T tự do tìm hiểu và đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn số 94 ngày 19 tháng 10 năm 2010 tại UBND xã Tr, huyện H, tỉnh N do vậy quan hệ giữa chị K và anh T là quan hệ vợ chồng được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, nhưng anh T không chịu làm ăn, cùng nhau phát triển kinh tế gia đình, mà thường hay chơi lô đề cờ bạc, rượu chè dẫn đến nợ nần nhiều, nên vợ chồng thường xuyên xảy ra đánh cãi chửi nhau. Ngày 03/8/2020 Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân giữa anh Bùi Thành T và chị Bùi Thị K, ông Bùi Văn V, bố đẻ anh T cho biết anh T con trai ông và chị K xây dựng gia đình với nhau vào tháng 10/2010. Sau khi cưới vợ chồng về chung sống cùng gia đình, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do anh T không chịu làm ăn thường xuyên chơi bời, cờ bạc dẫn đến nợ nần, bản thân gia đình cũng đã nhiều lần trả nợ cho anh T. Vì vậy vợ chồng anh T chị K thường xuyên xảy ra đánh cãi chửi nhau, đến ngày 07/8/2020 chị K xin phép gia đình về nhà bố mẹ đẻ ra chị K chơi vài ngày, nhưng sau đó chị K không về nữa. Nay chị K có đơn xin ly hôn anh T đề nghị Tòa án căn cứ vào các qui định của pháp luật để giải quyết. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Bùi Thị K và anh Bùi Thành T, nguyên nhân là anh T không tu chí làm ăn, thường xuyên chơi bời, rượu chè, cờ bạc dẫn đến nợ nần nhiều, bản thân chị K cũng như gia đình nhà chồng đã nhiều lần phải trả nợ cho anh T. Nhưng anh T vẫn không chịu sửa chữa lỗi lầm, tu chí làm ăn xây dựng hạnh phúc gia đình, mà còn thường xuyên đánh cãi chửi nhau với chị K làm cho cuộc sống vợ chồng lâm vào tình trạng bế tắc, mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết được. Ngày 07/8/2020 chị K bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở cùng thôn C, xã Tr sinh sống và có đơn xin ly hôn anh T. Trong quá trình giải quyết chị K vẫn giữ nguyên quan điểm tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T để ổn định cuộc sống. Vì vậy căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, xử ly hôn giữa chị Bùi Thị K với anh Bùi Thành T. Về con chung giao cho chị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên là Bùi Minh Th, sinh ngày 06/3/2014, anh Bùi Thành T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên là Bùi Anh H, sinh ngày 26/5/2011 hai bên không phải đóng góp tiền nuôi con chung cho nhau là phù hợp qui định pháp luật.
Về án phí: Chị Bùi Thị K phải nộp toàn bộ án phí theo qui định của pháp luật
Bởi lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Các Điều 56; 81; 82; 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử : Cho ly hôn giữa chị Bùi Thị K với anh Bùi Thành T.
- Về con chung: giao cho chị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên là Bùi Minh Th, sinh ngày 06/3/2014, anh Bùi Thành T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên là Bùi Anh H, sinh ngày 26/5/2011 hai bên không phải đóng góp tiền nuôi con chung cho nhau và không được cản trở quyền thăm non con chung, khi cần các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
- Về án phí: Chị Bùi Thị K phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2010/01151 ngày 08 tháng 7 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoa Lư.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NB; - THA DS h. Hoa Lư; - VKS huyện Hoa Lư; - UBND xã Trường Yên; - Các đương sự; - Lưu. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Đinh Xuân Tưởng |