vanban.org

Bản án 09/2020/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Giao cho chị Đàm Thị Thu Tr trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Ngô Thị Anh Thư, sinh ngày 03/11/2005. Xác nhận sự tự nguyện của chị Tr không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi chuyển dịch nuôi con anh H có quyền chăm sóc, thăm nom con chung, không ai được cản trở. Về án ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Chị Đàm Thị Thu Tr và bị đơn: Anh Ngô Văn Hạnh"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẬP THẠCH
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2020/HNGĐ-ST
Ngày 28 tháng 5 năm 2020
“V/v: Tranh chấp thay đổi người trực tiếp
nuôi con sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hữu Lực

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Anh Tuấn

Bà Trần Thị Kim Khuyên

- Thư ký phiên toà: Bà Lại Phương Thúy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Lợi – Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 43/2020/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2020, về việc tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đàm Thị Thu Tr, sinh năm 1985 Nơi cư trú: Thôn Đồng Ái, xã Quang Sơn, huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc, có mặt.

Bị đơn: Anh Ngô Văn H, sinh năm 1981 Nơi cư trú: Thôn Sơn Kịch, xã Quang Sơn, huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 02/01/2020 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Đàm Thị Thu Tr trình bày:

Tại bản án Hôn nhân và gia đình số: 35/2013/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 8 năm 2013, của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch đã Quyết định cho chị và anh Ngô Văn H được ly hôn; về phần con chung, chị là người được giao trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng cháu Ngô Thị Nữ, sinh năm 2007; anh H được giao trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Ngô Thị Anh Thư, sinh ngày 03/11/2005, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau. Sau khi quyết định, anh H nuôi cháu Thư, nhưng trong quá trình nuôi dưỡng anh H thường xuyên không quan tâm, chăm sóc chu đáo mà còn đánh đập cháu Thư; chị đã làm đơn gửi đến Công an xã Quang Sơn và Công an xã đã mời anh H lên dăn đe. Năm 2019, cháu Thư có viết đơn tố cáo anh H có hành vi xâm hại tình dục đối với cháu, cơ quan Công an tiến hành thụ lý, giải quyết thì cháu Thư về ở với chị cho đến nay. Nay chị đề nghị Tòa án giao cháu Thư cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Thư và chị tự nguyện không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

Đối với anh Ngô Văn H là bị đơn, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh đều cố tình lẩn tránh, vắng mặt không có lý do. Ngày 18/3/2020, anh H đến Tòa, nhưng trong khi đang tiến hành lấy lời khai của anh H thì anh H đứng lên bỏ về. Qua xác minh tại UBND xã Quang Sơn thì hiện anh H vẫn thường xuyên ở nhà tại thôn Sơn Kịch, xã Quang Sơn. Các lần Tòa án báo gọi anh H, cơ quan Thừa phát lại đều giao thông báo, giấy triệu tập, thông báo hòa giải đến anh H và gia đình anh H, nhưng anh H vẫn cố tình lẩn tránh vắng mặt mà không có lý do chính đáng.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến giai đoạn Hội đồng xét xử, nghị án đã thực hiện đầy đủ, trình tự đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Ngô Văn H là bị đơn mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình lẩn tránh, vắng mặt không có lý do, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử Giao cho chị Đàm Thị Thu Tr trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Ngô Thị Anh Thư, sinh năm 2005. Xác nhận sự tự nguyện của chị Tr không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con; chị Tr phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ vào đơn khởi kiện, tài liệu kèm theo đơn khởi kiện của chị Đàm Thị Thu Tr và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án. Xác định đây là quan hệ tranh chấp “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”. Bị đơn là anh Ngô Văn H có địa chỉ tại xã Quang Sơn, huyện Lập Thạch nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Lập Thạch theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh H không đến tòa. Tòa án đã tiến hành triệu tập anh H, thông báo và niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh H vẫn cố tình vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án quyết định xét xử vắng mặt đương sự theo điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Xét đề nghị của chị Tr, quan điểm của anh H và kết quả xác minh thấy rằng: Trong thời gian anh H nuôi dưỡng cháu Thư mặc dù cũng có sự chăm sóc, nuôi dưỡng cháu nhưng cũng chưa thực sự đầy đủ và chu đáo dẫn đến việc cháu Thư đã bỏ học. Ngày 03/6/2019, cháu Thư có đơn tố cáo anh H có hành vi xâm hại tình dục đối với cháu, cơ quan Công an huyện Lập Thạch tiến hành thụ lý, giải quyết, sau đó cháu đã về ở với mẹ đẻ là chị Tr cho đến nay, cháu Thư làm đơn và có nguyện vọng xin được ở với chị Tr.

Do vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu Thư, xét thấy yêu cầu của chị Tr xin được thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn là có căn cứ quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về án phí: Chị Đàm Thị Thu Tr phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Giao cho chị Đàm Thị Thu Tr trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Ngô Thị Anh Thư, sinh ngày 03/11/2005. Xác nhận sự tự nguyện của chị Tr không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi chuyển dịch nuôi con anh H có quyền chăm sóc, thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Đàm Thị Thu Tr phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0007642 ngày 24/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lập Thạch. Chị Tr đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án chị Tr có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Anh H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao nhận bản án hoặc niêm yết tại UBND nơi cư trú của người vắng mặt.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ