- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thị S - Đỗ Thanh V"
- Tòa quyết gì? [1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị S. Không công nhận bà Dương Thị S và ông Đỗ Thanh V là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2020/HNGĐ-ST Ngày 29 – 5 - 2020 V/v: “Không công nhận vợ chồng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Như Thịnh; Ông Rmah In
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Bông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 47/2020/TLST-HNGĐ, ngày 28/4/2020 về việc “Không công nhận vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/5/2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Dương Thị S, sinh năm 1964
Địa chỉ: Thôn B, xã D, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt)
2. Bị đơn: ông Đỗ Thanh V, sinh năm 1959.
Địa chỉ: Thôn B, xã D, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).
NHẬN THẤY
Theo đơn khởi kiện ngày 10/9/2019, bản tự khai và tại phiên tòa các đương sự, trình bày:
- Bà Dương Thị S với ông Đỗ Thanh V tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1991, nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.
Cuộc sống gia đình hòa thuận được đến năm 1996 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông V có tình cảm với người phụ nữ khác và thường xuyên uống rượu say rồi đánh đập bà S bị thương tích rất nhiền lần, ông V cũng nhiều lần đánh con, vì các con nên bà S cũng đã cố gắng chịu đựng để các con có một gia đình êm ấm nhưng càng ngày ông V càng bộc lộ bản tính vũ phu đánh bà S thường xuyên hơn và đến nay bà S xét thấy không thể chịu đựng được nữa nên làm đơn này yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận vợ chồng giữa bà S và ông V. Ông Đỗ Thanh V cũng đồng ý với yêu cầu của bà S là đề nghị Tòa án không nhận là vợ chồng.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống bà S và ông V có 02 người con chung, tên là: Đỗ Thanh D, sinh ngày 08/3/1993 và Đỗ Thị Minh T, sinh ngày 15/11/1994;
Cả hai người con chung đều đã đủ 18 tuổi có đầy đủ sức khỏe nên bà S và ông V đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: bà S và ông V thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông trình bày quan điểm đối với việc giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng: Quá trình xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã giải quyết đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và đương sự đã chấp hành tốt các quy định của pháp luật về phiên toà sơ thẩm. Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, việc HĐXX vẫn tiến hành xét xử là bảo đảm đúng thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Nguyên đơn thực hiện quyền khởi kiện, cung cấp đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 14; Điều 15; Điều 16 Luật HNGĐ năm 2014. Không công nhận bà Dương Thị S và ông Đỗ Thanh V là vợ chồng. Đối với con chung đều đã đủ 18 tuổi nên không đặt ra để giải quyết, về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết do đương sự không yêu cầu.
Về án phí: Bà S phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày và xác nhận của đương sự trước phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị S yêu cầu Tòa án giải quyết việc không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Đỗ Thanh V là quan hệ pháp luật tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc trường hợp không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 8 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.
Đối với bị đơn ông Đỗ Thanh V có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án: bà Dương Thị S và ông Đỗ Thanh V chung sống với nhau như vợ chồng trên cơ sở tự nguyện từ năm 1991 nhưng đến nay vẫn chưa đến Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú để đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 và khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình. Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng….”. Cuộc sống chung của bà S và ông V không có hòa thuận, ông V có tình cảm với người phụ nữ khác và nhiều lần uống rượu say rồi xảy ra bạo lực gia đình, vì các con nên bà S đã cố gắng chịu đựng để cho các con có một gia đình êm ấm nhưng càng ngày ông V càng bộc lộ bản tính vũ phu nên bà S xét thấy không thể chịu đựng được nữa. Nay bà S yêu cầu không công nhận bà S và ông V là vợ chồng, ông V cũng đồng ý với yêu cầu của bà S. Vì vậy, HĐXX cần tuyên bố không công nhận bà S và ông V là vợ chồng.
Về con chung: bà S và ông V có 2 người con chung là: Đỗ Thanh D, sinh ngày 08/3/1993 và Đỗ Thị Minh T, sinh ngày 15/11/1994. Cả hai người con đều đã đủ 18 tuổi, có đủ sức khỏe, tự lao động được, các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra để giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự thống nhất không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét.
Về án phí: bà Dương Thị S phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 48; Điều 203; Điều 220; khoản 1 Điều 227; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị S. Không công nhận bà Dương Thị S và ông Đỗ Thanh V là vợ chồng.
[2]. Về án phí: bà Dương Thị S phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ mà bà S đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0006681 ngày 28/4/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Bông. Bà S đã nộp đủ.
[3]. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND H. Krông Bông; - Chi cục THADS; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Việt Hưng |