- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Bà Vũ Ngọc H - Ông Lê Văn T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2020/HNGĐ-PT Ngày: 16-3-2020 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ÔngPhạm Thành Dương.
Các Thẩm phán: Ông Trần Vĩnh Yên
Ông Vũ Hồng Luyến
- Thư ký phiên tòa: ÔngLê Huy Công – Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:Bà Vũ Thị Hồng Uyên- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 16 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2020/TLPT-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2020 về việc“Tranh chấp ly hôn”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 203/2019/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa bị kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2020/QĐ-PT ngày 06 tháng 02năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2020/QĐ-PT ngày 25/02/220 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vũ Ngọc H, sinh năm: 1983.
Địa chỉ: khu phố A, đường B, phường C, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm: 1980
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu phố A, đường B, phường C, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.
Hiện đang tạm trú: khu phố D, phường E, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.
- Viện Kiểm sát kháng nghị: Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai
(Bà H có đơn xin vắng mặt, ông T vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm;
Theo đơn xin ly hôn vào ngày 20/02/2019, bản tự khai vào ngày 19/6/2019 của bà Vũ Ngọc H:
Bà và ông Lê Văn T tự nguyện xây dựng gia đình với nhau vào năm 2005, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.
Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn do ông T hay ghen tuông và thường xuyên chửi bới đánh đập bà. Mặc dù đã nhiều lần hòa giải và được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng bà và ông T vẫn không giải quyết được mâu thuẫn, từ tháng 5/2018 ông T đã chuyển về phường T sống ly thân với bà cho đến nay. Nay bà nhận thấy vợ chồng không còn dành tình cảm cho nhau, mâu thuẫn đã nghiêm trọng, hạnh phúc gia đình không có, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể chung sống được với nhau nên bà xin được ly hôn với ông T.
- Về con chung: Có 02 cháu gồm Lê Minh Th, sinh ngày 23/10/2006 và Lê Minh Th1, sinh ngày 08/4/2015. Ly hôn bà xin được nuôi dưỡng cả 02 cháu Th và Th1, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà và ông T tự thỏa thuận với nhau.
- Về nợ chung: Không có.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 203/2019/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã quyết định: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Vũ Ngọc H. Bà Vũ Ngọc H được ly hôn ông Lê Văn T.Giao hai cháu Lê Minh Th, sinh ngày 23/10/2006 và Lê Minh Th1, sinh ngày 08/4/2015 cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu. Vì không trực tiếp nuôi con nên ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Tài sản chung không đặt ra giải quyết. Nợ chung tách ra để giải quyết bằng vụ án dân sự khác nếu sau này ông T có yêu cầu. Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 11/11/2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành quyết định số 342/QĐ/KNPT-P.9 kháng nghị bản án sơ thẩm số 203/2019/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm do vi phạm Bộ luật tố tụng dân sự.
Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Về thủ tục: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định sai địa chỉ của bị đơn, thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn không đúng qui định theo Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ngoài ra, tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ đầy đủ để giải quyết mối quan hệ hôn nhân của các đương sự.
Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn nộp đơn xin rút yêu cầu khởi kiện, do Tòa án cấp phúc thẩm không lấy được ý kiến của bị đơn và bị đơn chưa biết được vụ án ly hôn này đang được thụ lý nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa;
.Về thủ tục tố tụng: Kháng nghị được thực hiện đúng qui định của pháp luật nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
.Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành tố tụng vắng mặt bị đơn là ông Lê Văn T từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông T không còn cư trú tại địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú mà chuyển sang tạm trú tại địa chỉ mới ở phường T nhưng không có chứng cứ chứng minh, không tiến hành xác minh thông tin do nguyên đơn cung cấp mà vẫn xác định địa chỉ nơi cư trú mới của ông T là ở phường không đúng với hướng dẩn tại Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Từ việc tiến hành xác định địa chỉ không đúng dẫn đến thủ tục gửi các văn bản tố tụng cho bị đơn trong vụ án đều vi phạm qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Tại giai đoạn phúc thẩm, bà H nộp đơn xin rút đơn khởi kiện tranh chấp ly hôn với ông T, do cấp sơ thẩm không xác định được đúng địa chỉ của ông T, nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ mới nên Hội đồng xét xử không lấy ý kiến của bị đơn về việc xin rút yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được. Tuy nhiên, từ khi vụ án được thụ lý cho đến nay, bị đơn là ông T hoàn toàn không biết, nên việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn không xâm phạm gì đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn. Việc thay đổi kháng nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.
1. Hủy toàn bộ bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 203/2019/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, đình chỉ giải quyết vụ án.
2. Bà Vũ Ngọc H phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp tại biên lai thu số 0008271 ngày 04/6/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Bà Hồi không phải chịu án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKS ND tỉnh Đồng Nai; - TAND TP Biên Hòa; - VKSND TP Biên Hòa; - THA DS TP Biên Hòa; - Đương sư; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thành Dương |