vanban.org

Bản án 09/2020/HNGĐ-PT — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 06/03/2020 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/03/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của anh Phạm Minh C. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 145/2019/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Ngô Thị L E và anh Phạm Minh C. Về con chung: Buộc anh Phạm Minh C phải có nghĩa vụ giao cháu Phạm Tuấn Kiệt, sinh ngày 02-7 -2011 cho chị Ngô Thị L E tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Cấp dưỡng nuôi con chị E không yêu c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của anh Phạm Minh C. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 145/2019/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh
  • Căn cứ chính? Điều 213 Bộ luật Dân sự; Điều 219 Bộ luật Dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2020/HNGĐ-PT
Ngày 06-3-2020
V/v “ly hôn, tranh chấp về nuôi con,
chia tài sản khi ly hôn.”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An Tiên.

Các thẩm phán:

Bà Phạm Thị Hồng Vân;

Bà Nguyễn Thị Thúy Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh: Ông Nguyễn Minh Tâm - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 06 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 46/2019/TLPT-DS ngày 16 tháng 12 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”.

Do bản án hôn nhân gia đình số sơ thẩm số 145/2019/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 09/2020/QĐPT-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thị L E, sinh năm 1990; Địa chỉ nơi cư trú: ấp L, xã Th, huyện G, tỉnh Tây Ninh (Có mặt).

2. Bị đơn: Anh Phạm Minh C, sinh năm 1982; Địa chỉ: ấp L, xã Th, huyện G, tỉnh Tây Ninh. (Có mặt)

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Bà Trần Thị T, sinh năm 1952; Địa chỉ: ấp L, xã Th, huyện G, tỉnh Tây Ninh. (Tòa án không triệu tập)

- Anh Phạm Văn M, sinh năm 1987; Địa chỉ: ấp L, xã Th, huyện G, tỉnh Tây Ninh. (Tòa án không triệu tập)

- Chị Ngô Thị L, sinh năm 1987; địa chỉ: xã T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. (Tòa án không triệu tập)

4. Người kháng cáo: Anh Phạm Minh C

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 8 năm 2019 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Ngô Thị L E trình bày:

Chị và anh C chung sống với nhau từ năm 2009, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8 năm 2019 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn về tiền bạc, chị làm công nhân về trễ anh C cho rằng chị đi ăn nhậu không lo cho gia đình và con nên đánh đuổi chị đi.

Chị và anh C có 01 con chung tên Phạm Tuấn Kiệt, sinh ngày 02-7-2011 hiện đang sống chung với anh chị. Nay chị yêu cầu ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con; không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung của vợ chồng gồm: một căn nhà cấp 4C, nhà bếp và nhà vệ sinh, hàng rào lưới kẽm B40; cổng rào, giếng khoan; mô tưa; bồn nước Inox, một xe mô tô hiệu Honda RSX biển số 70F1-182.12; một tivi hiệu Sony 43 inch; một tivi hiệu Asanzo 32 inch; một tủ lạnh hiệu Aqua 143 lít; một tủ lạnh hiệu Panasonic 143 lít; một tủ đựng chén bằng nhôm, kính; một tủ đựng quần áo bằng nhôm, kính; 01 con bò đực con màu vàng. Chị yêu cầu chia đôi tài sản và được nhận giá trị bằng tiền.

Về nợ chung: nợ bà Tảo mẹ anh C 10.000.000 đồng, nợ của anh Mến em anh C 37.000.000 đồng, chị yêu cầu chia đôi cùng trả nợ.

Bị đơn anh C trình bày: Anh thừa nhận lời trình bày của chị E về ngày tháng năm chung sống, con chung, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và nợ chung là đúng sự thật. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc nên chị E yêu cầu ly hôn anh đồng ý và giao cháu Kiệt cho chị E nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: 01 con bò đực con màu vàng là tài sản riêng nên anh không đồng ý chia. Ngoài tài sản chung chị E đã nêu còn có một xe mô tô hiệu Honda RSX biển số 95 D1-168.26, khi mua chị E không có giấy phép lái xe nên để chị Ngô Thị L (Chị của chị E) đứng tên dùm, anh yêu cầu chia nên dây là tài sản chung anh yêu cầu chia. Về tài sản chung yêu cầu chia cho anh 06 phần chị E 04 phần.Về nợ chung yêu cầu chia đôi.

Bà Tảo trình bày: Bà có cho vợ chồng anh C vay 03 lần tổng cộng 30.000.000 đồng, anh C trả 10.000.000 đồng, chị E trả 10.000.000 đồng, còn nợ 10.000.000 đồng. Bà yêu cầu chị E và anh C trả cho bà.

Anh Mến trình bày: Anh cho vợ chồng anh C chị Mến vay 77.000.000 đồng gồm 50.000.000 đồng xây nhà, 10.000.000 đồng đi đám giổ bên chị E, 17.000.000 đồng mua bò đực con màu vàng. Anh C đã trả 40.000.000 đồng. Yêu cầu vợ chồng anh C chị E trả 37.000.000 đồng còn nợ.

Chị Lý trình bày: Xe mô tô biển số 95D1-168.26 là của chị mua vào tháng 3/2014, giá 22.000.000 đồng. Do chị Ngô Thị L E không có xe đi làm nên chị cho mượn làm phương tiện đi lại. Anh C cho rằng tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu chia chị không đồng ý.

Tại bản án sơ thẩm số 145/2019/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh quyết định:

Căn cứ vào Điều 37, 55, 59, 63, 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 213, 219, 463 Bộ luật dân sự năm 2015; 157, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Ngô Thị L E và anh Phạm Minh C.

- Về con chung: Buộc anh Phạm Minh C phải có nghĩa vụ giao cháu Phạm Tuấn Kiệt, sinh ngày 02-7 -2011 cho chị Ngô Thị L E tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Cấp dưỡng nuôi con chị E không yêu cầu giải quyết. Anh Phạm Minh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

- Về tài sản chung:

Chia cho chị Ngô Thị L E xe mô tô hiệu Honda RSX biển số 70F1-182.12.

- Chia cho anh Phạm Minh C được quyền sở hữu các tài sản gồm: Một căn nhà cấp 4C xây dựng năm 2018 diện tích 111,78 m2, mái che cột xi măng và cột sắt, lợp tole phía trước diện tích 112,7 m2, mái che cặp hông nhà diện tích 82 m2, nhà bếp và nhà vệ sinh, mái lợp tole, nền xi măng, vách tường gạch diện tích 28,62 m2, hàng rào lưới kẻm B 40, chân xây gạch cao 30 cm, lưới kẻm cao 1,5 m, trụ xi măng có tổng chiều dài 87,2 m, một cổng rào ngang 3,9 m, cao 2,3 m, kết cấu sắt hộp, trụ cổng rào xây gạch, một giếng khoan, một mô tưa, một bồn dựng nước Inox hiệu Đại Thành 1.500 lít, một trụ xi măng bê tông cao 04 m để bồn, một sân cán xi măng diện tích112,7 m2, một sân cán xi măng diện tích 82 m2, một sân cán xi măng diện tích 21,2 m2, một tivi hiệu Sony 43 inch, một tivi hiệu Asanzo 32 inch, một tủ lạnh hiệu Aqua 143 lít, một tủ lạnh hiệu Panasonic 143 lít, một tủ đựng chén bằng nhôm, kính ngang 1,8 m dài 1,8 m, sâu 45 cm, một tủ đựng quần áo bằng nhôm, kính ngang 1,55 m dài 1,45 m, sâu 40 cm, 01 con bò đực con màu vàng. Buộc chị Ngô Thị L E phải có nghĩa vụ giao tài sản nêu trên cho anh Phạm Minh C.

Buộc anh Phạm Minh C phải có nghĩa vụ thanh toán cho chị Ngô Thị L E số tiền 148.961.495 đồng.

- Về nợ chung: Anh Phạm Minh C phải có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị T 10.000.000 đồng, trả cho anh Phạm Văn M 37.000.000 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án, quyền kháng cáo.

* Nội dung kháng cáo: Theo đơn kháng cáo đề ngày 11-11-2019 của anh Phạm Minh C yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chia tài sản theo tỷ lệ anh 07 phần chị E 03 phần.

Tại phiên tòa phúc thẩm, chị E vẫn giữa nguyên yêu cầu khởi kiện, anh C đề nghị làm rõ chiếc xe biển số 95D1-168.26 vì sao là tài sản của chị Ngô Thị L.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng qui định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo luật Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa phúc thẩm dân sự.

- Về việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng: Đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội qui phiên tòa.

- Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của anh Phạm Minh C; Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữa nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét kháng cáo của anh C:

Tại phiên tòa phúc thẩm, anh C trình bày chi phí xây nhà và mua sắm vật dụng sinh hoạt trong gia đình từ tiền anh nhận bảo hiểm khi nghỉ việc, bảo hiểm thất nghiệp, tiền vay của bà Tảo, anh Mến và tiền chị E. Như vậy toàn bộ chi phí này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân; anh là người trực tiếp xây nhà, khi xây nhà chị E vừa nuôi con vừa đi làm gửi tiền phụ anh; không có chứng cứ chứng minh công sức tạo lập tài sản của anh nhiều hơn chị E. Tòa án cấp sơ thẩm xác định công sức tạo lập của anh chị là ngang nhau là phù hợp. Trong vụ án này, chị E là người trực tiếp nuôi con; lỗi dẫn đến ly hôn xuất phát từ anh C. Đáng lẽ phải chia tài sản cho chị E nhiều hơn nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chia đôi tài sản là chưa xem xét hết quyền lợi của chị E. Anh C kháng cáo yêu cầu chia tài sản cho anh 07 phần, chị E 03 phần nhưng không xuất trình được chứng cứ mới chứng minh anh có công sức anh nhiều hơn nên kháng cáo của anh không được chấp nhận; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[2] Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave RSX biển số 95D1-168.26 do chị Ngô Thị L đứng tên. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh C xác nhận anh không trực tiếp mua chiếc xe này, mua bao nhiêu tiền anh không biết. Anh không có chứng cứ chứng minh việc cho chị Lý đứng tên dùm. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định chiếc xe Honda Wave RSX biển số 95D1-168.26 không phải tài sản chung của anh C chị E là có căn cứ.

[3] Về án phí phúc thẩm: anh C phải chịu 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm do kháng cáo của anh không được chấp nhận theo quy định tại Khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của anh Phạm Minh C. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 145/2019/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh

Căn cứ vào Điều 37, 55, 59, 63, 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 213, 219, 463 Bộ luật dân sự năm 2015; 157, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27, Khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Ngô Thị L E và anh Phạm Minh C.

2. Về con chung: Buộc anh Phạm Minh C phải có nghĩa vụ giao cháu Phạm Tuấn Kiệt, sinh ngày 02-7 -2011 cho chị Ngô Thị L E tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Cấp dưỡng nuôi con chị E không yêu cầu giải quyết. Anh Phạm Minh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung:

- Chia cho chị Ngô Thị L E được quyền sử hữu xe mô tô hiệu Honda RSX biển số 70F1-182.12. Buộc anh Phạm Minh C phải có nghĩa vụ giao xe mô tô hiệu Honda RSX biển số 70F1-182.12 chị Ngô Thị L E.

- Chia cho anh Phạm Minh C được quyền sở hữu các tài sản gồm: Một căn nhà cấp 4C xây dựng năm 2018 diện tích 111,78 m2 trị giá 197.280.522 đồng, mái che cột xi măng và cột sắt, lợp tole phía trước diện tích 112,7 m2 trị giá 38.227.840 đồng, mái che cặp hông nhà diện tích 82 m2 trị giá 27.814.400 đồng, nhà bếp và nhà vệ sinh, mái lợp tole, nền xi măng, vách tường gạch diện tích 28,62 m2 trị giá 24.406.299 đồng, hàng rào lưới kẻm B 40, chân xây gạch cao 30 cm, lưới kẻm cao 1,5 m, trụ xi măng có tổng chiều dài 87,2 m trị giá 31.195.800 đồng, một cổng rào ngang 3,9 m, cao 2,3 m, kết cấu sắt hộp, trụ cổng rào xây gạch trị giá 5.433.129 đồng, một giếng khoan trị giá 1.272.000 đồng, một mô tưa trị giá 500.000 đồng, một bồn dựng nước Inox hiệu Đại Thành 1.500 lít trị giá 3.402.000 đồng, một trụ xi măng bê tông cao 04 m để bồn nước trị giá 973.080 đồng, một sân cán xi măng diện tích112,7 m2 trị giá 3.245.760 đồng, một sân cán xi măng diện tích 82 m2 trị giá 2.361.600 đồng, một sân cán xi măng diện tích 21,2 m2 trị giá 610.560 đồng, một tivi hiệu Sony 43 inch trị giá 5.000.000 đồng, một tivi hiệu Asanzo 32 inch trị giá 1.400.000 đồng, một tủ lạnh hiệu Aqua 143 lít trị giá 2.500.000 đồng, một tủ lạnh hiệu Panasonic 143 lít trị giá 1.000.000 đồng, một tủ đựng chén bằng nhôm, kính ngang 1,8 m dài 1,8 m, sâu 45 cm trị giá 900.000 đồng, một tủ đựng quần áo bằng nhôm, kính ngang 1,55 m dài 1,45 m, sâu 40 cm trị giá 1.400.000 đồng, 01 con bò đực con màu vàng trị giá 5.000.000 đồng. Buộc chị Ngô Thị L E phải có nghĩa vụ giao tài sản nêu trên cho anh Phạm Minh C.

- Buộc anh Phạm Minh C phải có nghĩa vụ thanh toán cho chị Ngô Thị L E 148.961.495 đồng (Một trăm bốn mươi tám triệu chín trăm sáu mươi mốt ngàn bốn trăm chín mươi lăm đồng)

4. Về nợ chung:

- Anh Phạm Minh C có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị T 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

- Anh Phạm Minh C có nghĩa vụ trả cho anh Phạm Văn M 37.000.000 (Ba mươi bảy triệu) đồng.

- Chị Ngô Thị L E được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

5. Về chi phí tố tụng: Tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 800.000 đồng và tiền chi phí định giá tài sản 600.000 đồng, tổng cộng: 1.400.000 đồng. Trong đó chị Ngô Thị L E phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 400.000 đồng và tiền chi phí định giá tài sản 300.000 đồng, tổng cộng: 700.000 đồng. Anh Phạm Minh C phải chịu 400.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và 300.000 tiền chi phí định giá tài sản, tổng cộng: 700.000 đồng. Ghi nhận chị Ngô Thị L E đã nộp 4.000.000 đồng. Buộc anh Phạm Minh C phải hoàn trả lại cho chị Ngô Thị L E 700.000 đồng. Hoàn trả lại cho chị Ngô Thị L E 2.600.000 đồng tiền tạm ứng chi phí tố tụng (Đã trả xong).

6. Về án phí sơ thẩm:

- Chị Ngô Thị L E phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình, 9.073.074 đồng (Chín triệu không trăm bảy mươi ba ngàn không trăm bảy mươi bốn đồng) án phí dân sự. Khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị E đã nộp 6.366.000 theo biên lai thu số 0009627 ngày 30 tháng 8 năm 2019, chị Ngô Thị L E còn phải nộp tiếp 3.007.074 đồng (Ba triệu không trăm lẽ bảy ngàn không trăm bảy mươi bốn đồng)

- Anh Phạm Minh C phải chịu 9.073.074 đồng (Chín triệu không trăm bảy mươi ba ngàn không trăm bảy mươi bốn đồng)

- Hoàn trả cho anh Phạm Văn M 925.000 đồng (Chín trăm hai mươi lăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0009679 ngày 18-9-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G.

7. Án phí phúc thẩm:

Anh Phạm Minh C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh C đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009783 ngày 11-11-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận anh C đã nộp xong khoản tiền này.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ