vanban.org

Bản án 09/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị L.

Buộc vợ chồng ông Y, bà H phải trả cho bà Lê Thị L số tiền 200.000.000 đồng tiền gốc. “Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Lê Thị L - H + Y"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 470 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2020/DS-ST
Ngày 20/4/2020
“ V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản”

NH ÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Duy Luận

Các hội thẩm nhân dân: Bà H Lum Niê và bà Trần Thị Thanh Thẩm

Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Ngọc – Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 4 năm 2020 tại Toà án nhân dân huyện Cư M’gar xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 359/2019/TLST – DS ngày 11 tháng 9 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2020/QĐXXST- DS, ngày 11 tháng 3 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/QĐST-DS ngày 30/3/2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị L, có mặt

Địa chỉ: 212 đường X, TP. B, tỉnh Đắk Lắk

Bị đơn: Ông Y và bà H, vắng mặt

Địa chỉ: Buôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk

Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Chị B (con gái bà H), vắng mặt

Địa chỉ: Buôn Hra A, xã EaTul, huyện C, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn Lê Thị L trình bày:

Bà L và vợ chồng ông Y, bà H có quen biết nhau. Ngày 16/01/2018 vợ chồng ông Y, bà H đã đến nhà bà L vay số tiền là 200.000.000 đồng, để đáo hạn Ngân hàng, không thỏa thuận lãi suất, hẹn 02 ngày sau trả đủ. Sau khi nhận đủ số tiền 200.000.000 đồng vợ chồng ông Y, bà H đã ký và viết tên “Y”, “H” vào giấy vay tiền đề ngày 16/01/2018. Từ thời điểm vay đến nay vợ chồng ông Y, bà H chưa trả cho bà L khoản tiền nào.

Nay bà L đề nghị Tòa án nhân dân huyện C buộc vợ chồng ông Y và bà H trả cho bà L số tiền là 200.000.000 đồng tiền gốc, không yêu cầu lãi suất.

Qúa trình tố tụng ông Y và bà H trình bày:

Vợ chồng ông Y, bà H không quen biết bà Lê Thị L, chưa từng vay tiền của bà L. Vì vậy, ông bà không thừa nhận chữ ký, chữ viết “Y”, “H” cuối giấy vay tiền 16/01/2018 là do ông bà ký và viết. Nay bà L khởi kiện ông bà không đồng ý trả nợ vì ông bà không vay tiền của bà L.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án;

Đối với Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Tòa án còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử;

Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 463; Điều 466 và Điều 470 Bộ luật dân sự;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị L.

Buộc ông Y, bà H trả cho bà Lê Thị L số tiền là 200.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết về tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện.

. Về thủ tục tố tụng: Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về nội dung vụ án:

Phía nguyên đơn bà Lê Thị L cho rằng ngày 16/01/2018 vợ chồng ông Y, bà H đã đến nhà bà L vay số tiền là 200.000.000 đồng, để đáo hạn Ngân hàng, hẹn 02 ngày sau trả đủ. Sau khi nhận đủ số tiền 200.000.000 đồng vợ chồng ông Y, bà H đã ký và viết tên “Y”, “H” vào giấy vay tiền đề ngày 16/01/2018. Do vợ chồng ông Y, bà H không thừa nhận chữ ký, chữ viết “Y”, “H” cuối giấy vay tiền 16/01/2018 là do ông bà ký và viết nên Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký của ông Y, bà H. Tại bản kết luận giám định số 124/PC09 ngày 31 tháng 10 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Đăk Lăk đã kết luận: Chữ ký mang tên Y dưới mục “người vay” trong giấy vay tiền đề ngày 16/01/2018 khác dạng so với chữ ký đứng tên Y trong các tài liệu mẫu so sánh nên không tiến hành giám định. Chữ viết có nội dung “Y”, chữ ký, chữ viết mang tên “H” dưới mục “người vay” trong giấy vay trong giấy vay tiền ngày 16/01/2018 so với chữ ký, chữ viết đứng tên H trong các tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký và viết ra. Do đó yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L buộc vợ chồng ông Y và bà H trả cho bà L số tiền là 200.000.000 đồng tiền gốc là có căn cứ.

Do yêu cầu trưng cầu giám định chữ viết Y và chữ ký, chữ viết H là có căn cứ nên buộc vợ chồng ông Y, bà H trả cho bà Lê Thị L toàn bộ chi phí giám định là 4.320.000 đồng.

Về án phí: Vợ chồng ông Y, bà H phải chịu án phí do yêu cầu của bà Lê Thị L được chấp nhận.

Bà Lê Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 161; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng các Điều 463; Điều 466; Điều 470 Bộ luật dân sự;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị L.

Buộc vợ chồng ông Y, bà H phải trả cho bà Lê Thị L số tiền 200.000.000 đồng tiền gốc.

“Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Về án phí và chi phí tố tụng khác:

Về án phí: Vợ chồng ông Y, bà H phải chịu 10.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho nguyên đơn bà Lê Thị L 5.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0014240 ngày 4/9/2019 của Chi cục thi hành án huyện Cư M’gar.

Về chi phí giám định: Vợ chồng ông Y, bà H phải liên đới chịu 4.320.000 đồng tiền chi phí giám định. Bà Lê Thị L được nhận lại 4.320.000 đồng chi phí giám định tài liệu khi thu được từ vợ chồng ông Y, bà H.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ