vanban.org

Bản án 09/2019/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 19/07/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị H .

Tuyên bố: Chị Trần Thị T , sinh năm 1976 Địa chỉ: Địa chỉ: Lô … NT, phường BĐ, TP. TH, tỉnh TH mất năng lực hành vi dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Nguyễn Thị H - Trần Thị T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị H .
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HOÁ
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 09/2019/QĐST - DSTP. Thanh Hóa, ngày 19 tháng 7 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nga

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Duy Ninh - Thư ký

Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 10/2019/TLST- DS ngày 24 tháng 6 năm 2019 về “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp số: 10/2019/QĐPH-ST ngày 15 tháng 7 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây.

1. Người yêu cầugiải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị H , sinh năm 1938

Địa chỉ: Lô … NT, phường BĐ, TP. TH, tỉnh TH

2. Người liên quan: Chị Trần Thị T , sinh năm 1976

Địa chỉ: Lô … NT, phường BĐ, TP. TH, tỉnh TH

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu và bản tự khai bà Nguyễn Thị H trình bày: Vợ chồng bà sinh được 5 người con, chị Trần Thị T là con thứ 4, sinh năm 1976. Chị T phát triển chậm, năm 3 tuổi mới nói được vài từ. Khi chị T 6 tuổi gia đình cho chị đi học nhưng chị không học được và không làm chủ được việc sinh hoạt cá nhân nên nhà trường trả về.

Gia đình đã chạy chữa cho chị T nhiều nơi nhưng không có kết quả. Năm chị T 10 tuổi do bị ốm nên gia đình đưa chị T đi chữa bệnh, Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa xác định chị bị tâm thần phân liệt và chuyển hồ sơ để chị T điều trị tại Bệnh viện tâm thần. Từ đó đến nay chị T điều trị ngoại trú tại Bệnh viện tâm thần Thanh Hóa tuy nhiên bệnh không thuyên giảm mà ngày càng nặng thêm. Hiện tại chị T chỉ ở nhà, không giao tiếp bên ngoài, không tự chủ được sinh hoạt cá nhân, phải có người phục vụ. Chị T đang hưởng trợ cấp xã hội dành cho người tàn tật từ năm 2016.

Tháng 5/2019 gia đình đã đưa chị T đi giám định sức khỏe tâm thần tại Bệnh viện tâm thần Trung ương I. Bệnh viện Kết luận: Chị Trần Thị T bị bệnh tâm thần mạn tính. Hiện tại mất năng lực hành vi dân sự.

Nay để đảm bảo quyền lợi cho chị T trong các giao dịch quan hệ xã hội, bà Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với con gái bà là chị Trần Thị T , sinh năm 1976

Ngày 15/7/2019 Tòa án xác minh tại địa phương nơi cư trú của chị T , thông tin địa phương cung cấp: Chị T bị tâm thần từ nhỏ, không giao tiếp bên ngoài, thường xuyên la hét, không tự phục vụ được bản thân.

Tại phiên họp: Bà Trần Thị H giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trên

Ý kiến đại diện VKS: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký, việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự đã tuân thủ đúng quy định. Về nội dung: Đại diện VKS đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa nhận định:

Chị Trần Thị T , sinh năm 1976 là con đẻ của ông Trần Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị H , chị T không có chồng con do đó bà H là người giám hộ đương nhiên, người đại diện theo pháp luật của chị T theo quy định tại Điều 53, Điều 136 Bộ luật dân sự. Do chị T đã được các cơ sở y tế xác định mắc bệnh tâm thần, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho chị T bà H làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị T mất năng lực hành vi dân sự là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 376 - Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tài liệu trong hồ sơ thể hiện, chị Trần Thị T đã điều trị tại Bệnh viện tâm thần tỉnh Thanh Hóa từ năm 2007 đến nay. Tại Giấy xác nhận bệnh tật ngày 12/10/2010 của Bệnh viện đa khoa Thanh Hóa xác nhận chị T “Mất khả năng lao động; không còn khả năng tự phục vụ bản thân”; Giấy xác nhận bệnh tật ngày 26/4/2011 của Bệnh viện tâm thần Thanh Hóa kết luận chị Trần Thị T bị “Rối loạn tâm thần, thiểu năng trí tuệ, không có khả năng lao động”; Hiện tại chị T đang được hưởng trợ cấp xã hội dành cho người tàn tật tại địa phương; Tại Kết luận giám định sức khỏe tâm thần số 37/KHTH-BV ngày 29/5/2019 của Bệnh viện tâm thần Trung ương I kết luận “Chị Trần Thị T bị bệnh tâm thần mạn tính. Hiện tại mất năng lực hành vi dân sự”.

Kết quả xác minh tại địa phương nơi cư trú của chị T , xác định: Chị T bị tâm thần từ nhỏ, không giao tiếp bên ngoài, thường xuyên la hét, không tự phục vụ được bản thân.

Do đó đủ cơ sở xác định chị Trần Thị T bị bệnh tâm thần không thể làm chủ được hành vi.

Nay bà Nguyễn Thị H yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ và phù hợp quy định tại Điều 22; Điều 376 - Bộ luật TTDS nên được chấp nhận.

Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị H là người cao tuổi nên được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 27; Điều 378, Điều 370; Điều 371, Điều 372 BLTTDS.

Căn cứ Điều 22 - Bộ luật dân sự.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị H .

Tuyên bố: Chị Trần Thị T , sinh năm 1976

Địa chỉ: Địa chỉ: Lô … NT, phường BĐ, TP. TH, tỉnh TH mất năng lực hành vi dân sự.

Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị H được miễn nộp lệ phí giải quyết việc dân sự

Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định hoặc quyết định được niêm yết theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, VKS cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ