- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hồng S phạm tội Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng S phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2019/HSST Ngày: 21/02/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có; Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phùng Thị Hương Giang Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Ngô Sỹ Lượng
2. Ông: Cao Viết Mạo ơ Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị An - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 21/02/2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2019/TLST-HS ngày 25/01/2019 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2019/QĐXXST-HS ngày 11/02/2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hồng S; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 07/02/1986 tại huyện Quỳ H, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khối 1, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lái xe; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Nguyễn Đức V, sinh năm 1959; nghề nghiệp: Hưu trí và con bà Trần Thị H, sinh năm 1963; nghề nghiệp: Buôn bán; Hiện trú tại: Khối 1, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Đặng Thị Mai A, sinh năm 1990; nghề nghiệp: Lao động tự do và có 02 (hai) con; lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/12/2018 đến ngày 27/12/2018 được thay đổi áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay - có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến: Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1955.
Trú tại: Khối Đ, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An (vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ ngày 24/12/2018, bị cáo Nguyễn Hồng S một mình đón xe khách đi từ thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An xuống khu vực C, huyện Q, tỉnh Nghệ An để tìm mua pháo với mục đích để sử dụng trong dịp tết Nguyên đán năm 2019. Tại đây, bị cáo hỏi và mua của một người đàn ông (bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ) 20 (hai mươi) hộp pháo với giá 10.000.000đồng (mười triệu đồng), trong đó gồm 10 hộp pháo hình hộp chữ nhật, mỗi hộp có kích thước 13x13x10cm), bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc bên trong có chứa 36 quả pháo hình trụ tròn liên kết với nhau được bỏ vào một thùng cát tông kích thước (14x27x35)cm và 10 hộp pháo hình hộp chữ nhật, mỗi hộp có kích thước (14x14x12)cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, bên trong có chứa 36 quả pháo hình trụ tròn liên kết với nhau và được bỏ vào một thùng cát tông kích thước (16x27x42)cm. Sau khi mua được pháo, bị cáo mang số pháo trên đón xe khách đi về nhà. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi xe khách đi đến khu vực khối Đ, phường H, thị xã T, bị cáo xuống xe mang theo toàn bộ số pháo trên để tìm mua một số đồ dùng cá nhân. Khi bị cáo đang đi trên đường Quốc lộ 48 thì bị tổ công tác Đội tuần tra kiểm soát giao thông 148 - phòng PC 08, công an tỉnh Nghệ An phát hiện và bắt giữ cùng vật chứng.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định của cơ quan CSĐT Công an thị xã T xác định:
- 10 (mười) hộp pháo hình hộp chữ nhật, mỗi hộp có kích thước (14x14x12cm), bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, bên trong có chứa 36 quả pháo hình trụ tròn liên kết với nhau có khối lượng 12 kg (mười hai kilôgam).
- 10 (mười) hộp pháo hình hộp chữ nhật, mỗi hộp có kích thước 13x13x10cm), bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc bên trong có chứa 36 quả pháo hình trụ tròn liên kết với nhau, có khối lượng là 11 kg (mười một kilôgam).
Như vậy, tổng khối lượng vật chứng thu giữ của bị cáo là 23kg (hai mươi ba kilôgam).
Tại bản kết luận giám định số 93/KL-PC 09 (CN) ngày 27/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Hai mẫu vật (ký hiệu A1 và A2) thu giữ của bị cáo Nguyễn Hồng S gửi giám định đều là pháo nổ có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).
Vật chứng vụ án:
- Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thái Hòa thu giữ 23 kg pháo nổ của bị cáo đã lấy 1,2 kg (ký hiệu A1) và 1,1 kg (ký hiệu A2) để trưng cầu giám định. Số vật chứng còn lại 20,7 kg được niêm phong theo theo đúng quy định của pháp luật.
Cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 24/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T đã truy tố bị cáo Nguyễn Hồng S về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 191 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 191; điểm i, s khoản 1 điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng S về tội “Tàng trữ hàng cấm” . Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng S mức an từ 18 tháng đến 24 tháng tù cho hưởng án treo; Thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng, tính từ ngày tuyên án. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Vật chứng của vụ án:
Đề nghị áp dụng: Điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 09 (hộp) pháo hoa kích thước (13x13x10)cm, bên trong mỗi hộp chứa 36 quả hình trụ được liên kết với nhau và 09 hộp pháo hoa kích thước (14x14x12)cm, bên trong mỗi hộp chứa 36 quả hình trụ được liên kết với nhau, có tổng khối lượng là 20,7 kg (hai mươi phẩy bảy kilôgam) là số pháo còn lại sau khi đã gửi đi giám định.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành của mình là vi phạm pháp luật, hiện tại vợ không có nghề nghiệp gì và nuôi hai con còn nhỏ, nên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã T, tỉnh Nghệ An, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã T; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như qúa trình điều tra và nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ như biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của bị cáo, người chứng kiến...,được xem xét và thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 14 giờ ngày 24/12/2018 tại đường Quốc lộ 48 thuộc khối Đ, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An Tổ công tác đội TTKSGT 148 - phòng PC 08 Công an tỉnh Nghệ An phát hiện và bắt quả tang bị cáo Nguyễn Hồng S có hành vi tàng trữ hàng cấm (pháo nổ) gồm 10 (mười) hộp pháo hình hộp chữ nhật, mỗi hộp có kích thước (14x14x12cm), bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, bên trong có chứa 36 quả pháo hình trụ tròn liên kết với nhau và 10 (mười) hộp pháo hình hộp chữ nhật, mỗi hộp có kích thước 13x13x10cm), bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu săc bên trong có chứa 36 quả pháo hình trụ tròn liên kết với nhau, có tổng khối lượng 23kg (hai mươi ba kilôgam), nhằm mục đích để sử dụng trong dịp tết nguyên đán năm 2019. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ hàng cấm” theo qui định tại điểm c khoản 1 điều 191 của Bộ luật hình sự. Vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý, sản xuất, kinh doanh hành hóa bị cấm, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn. Hơn nữa các loại pháo nổ còn gây nguy hại đến sự an toàn công cộng. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ các loại pháo nổ là thuộc danh mục Nhà nước cấm nhưng vì mục đích để sử dụng cá nhân nên bị cáo đã cố ý thực hiện. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội mà mình gây ra. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay xét thấy rằng bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đồng thời đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi thường trú rõ ràng. Quá trình sinh sống tại địa phương bản thân và gia đình bị cáo chấp hành tốt chủ trưởng, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương theo dõi, giám sát và giáo dục cũng đủ nghiêm răn đe bị cáo, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng và nhân đạo của Nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Theo lời khai của bị cáo cũng như biên bản xác minh về thu nhập của bị cáo thấy rằng bị cáo thu nhập hàng tháng không ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Vật chứng của vụ án:
Thu gi÷ gåm: 10 (mười) hộp pháo hình hộp chữ nhật, mỗi hộp có kích thước (14x14x12cm), bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, bên trong có chứa 36 quả pháo hình trụ tròn liên kết với nhau có khối lượng 12 kg (mười hai kilôgam) và 10 (mười) hộp pháo hình hộp chữ nhật, mỗi hộp có kích thước 13x13x10cm), bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc bên trong có chứa 36 quả pháo hình trụ tròn liên kết với nhau, có khối lượng là 11 kg (mười một kilôgam). Tổng khối lượng vật chứng thu giữ của bị cáo là 23kg (hai mươi ba kilôgam). Tuy nhiên quá trình điều tra đã lấy 2,3kg (hai phẩy ba kilôgam) để trưng cầu giám định và không hoàn lại mẫu vật. Còn lại 20,7kg (hai mươi phẩy bảy kilôgam) là số pháo còn lại sau khi đã gửi giám định. Xác định số vật chứng trên thuộc danh mục hàng cấm, nên tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
(Hiện số vật chứng trên đang lưu giữ tại Ban chỉ huy quân sự thị xã T theo biên bản bàn giao VKTB KT-ĐD, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ theo Nghị định 25/NĐ-CP; Nghị định 26/NĐ-CP ngày 25/01/2019 giữa Công an thị xã T và Ban chỉ huy quân sự thị xã T, tỉnh Nghệ an. Giao cho Ban chỉ huy quân sự thị xã T, tỉnh Nghệ an xử lý tiêu thủy theo quy định của pháp luật).
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1, 4 điều 191; điểm i, s khoản 1 điều 51; điều 65 của Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng S phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng S 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo S cho UBND thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Trong trường hợp bị cáo S thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng:
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy gồm: 09 (hộp) pháo hoa kích thước (13x13x10)cm, bên trong mỗi hộp chứa 36 quả hình trụ được liên kết với nhau và 09 hộp pháo hoa kích thước (14x14x12)cm, bên trong mỗi hộp chứa 36 quả hình trụ được liên kết với nhau, có tổng khối lượng là 20,7 kg (hai mươi phẩy bảy kilôgam) là số pháo còn lại sau khi đã gửi đi giám định.
(Hiện số vật chứng trên đang lưu giữ tại Ban chỉ huy quân sự thị xã T theo biên bản bàn giao VKTB KT-ĐD, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ theo Nghị định 25/NĐ-CP; Nghị định 26/NĐ-CP ngày 25/01/2019 giữa Công an thị xã Thái Hòa và Ban chỉ huy quân sự thị xã T, tỉnh Nghệ an. Giao cho Ban chỉ huy quân sự thị xã T, tỉnh Nghệ an xử lý tiêu thủy theo quy định của pháp luật).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo S phải chịu 200.000VNĐ án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
| Nơi nhận: - - Bị cáo; - TAND Tỉnh Nghệ An; - VKSND; Công an TX T; - Thi hành án Dân sự TX T; - UBND thị trấn Q, Huyện Q; - Ban chỉ huy Quân sự TX T; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phùng Thị Hương Giang |