vanban.org

Bản án 09/2019/HSST — Hình sự

TAND TX. Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 09/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Đổ Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt Đổ Văn Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án. Việc bồi thường thiệt hại: Căn cứ các điều 584, 585, 590 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015: Công nhận thỏa thuận về việc bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn Th chi phí điều trị; chi phí tiền xe và ngày cô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn Đ - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Đổ Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUYÊN HẢI
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2019/HS-ST
Ngày 09-5-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Nước

Ông Hà Văn Quen

- Thư ký phiên tòa: Ông Thạch Rine – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Tăng Thị Thơm - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2019/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Đổ Văn Đ, sinh năm 1970; tại Trà Vinh. Nơi cư trú ấp C, xã DTh, thị xã DH, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: làm giồng; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn L, sinh năm 1942 và bà Trần Thị Đ, sinh năm 1948; có vợ Lê Trường Gi, sinh năm 1973; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 22/3/2019 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1975. Địa chỉ ấp C, xã DTh, thị xã DH, tỉnh Trà Vinh. Có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Lê Trường G, sinh năm 1973. Địa chỉ ấp C, xã DTh, thị xã DH, tỉnh Trà Vinh.. Vắng mặt.

Bà Đào Thị Hồng Th, sinh năm 1977. Địa chỉ ấp C, xã DTh, thị xã DH, tỉnh Trà Vinh. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Cáo trạng số 13/CT-VKS-HS ngày 16 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Đổ Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Hành vi bị cáo bị truy tố như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 30/01/2019, Nguyễn Văn Th, sinh năm 1975 và Đổ Thái Ch, sinh năm 1996 (con trai Đổ Văn Đ) cùng ngụ ấp C, xã DTh, thị xã DH uống rượu bia chung với nhau tại nhà anh Phan Tấn D, sinh năm 1979 ngụ cùng ấp. Trong lúc uống rượu bia giữa ông Th và Ch xảy ra mâu thuẫn trong việc hát karaoke dẫn đến xô xát đánh nhau bằng tay thì được mọi người can ra, Th bỏ về nhà. Khi hay được sự việc con mình đánh nhau với người khác nên bà Lê Trường G nói: “ông chạy xuống nhà thằng D coi sau, thằng Ch cự cãi đánh lộn với thằng Th um sùm dưới nhà thằng D kìa”, nghe vậy bị cáo Đ lấy xe mô tô biển số 84F7 – 3763 chạy xuống nhà D để rước Chi về. Đến nơi thấy Ch đang đứng trước sân nhà D nên bị cáo Đ nói: “mầy làm cái gì ăn nhậu mà còn đánh lộn đánh lạo nửa, ai đánh mầy”, Ch trả lời “Th đánh”, bị cáo Đ nói “tự nhiên người ta đánh mầy, đi về”. Rồi Ch lên xe ông Đ chở về ông Chg thì ngồi sau ôm Ch. Về đến nhà, nghe Ch than đau đầu, chóng mặt, vợ bị cáo Đ kêu xe đưa con đi bệnh viện; bị cáo Đ nghĩ đến việc con mình bị Th đánh nên tức giận chạy xuống sau nhà lấy cây búa (loại búa chẽ củi) rồi lên xe chạy xuống nhà Th. Khi chạy đến trước nhà Th thấy ông Thảo đang nghe điện thoại trước sân nên bị cáo Đ cầm cây búa chạy thẳng đến đánh Th thì Th bỏ chạy được vài mét thì ông Đ rượt theo kịp và dùng búa đánh trúng vào vùng lưng Th một búa, Th gượng chạy được một hai mét nữa thì bị té nằm sấp xuống đất cặp lộ, bị cáo Đ tiếp tục dùng búa đánh vào hong bên trái của Th nhưng do đang tức giận nên không nhớ đánh bao nhiêu cái. bị cáo Đ vừa đánh vừa nói “tao chẽ đầu mầy được tao chẽ Th ơi, mầy làm chú mà mầy đánh nó giữ vậy, có gì sao mầy không mắng vốn tao, mầy đánh nó nhập viện rồi kìa” sau đó được mọi người khuyên can, bị cáo Đ ra xe cầm theo cây búa chạy về đem cây búa cất giấu phía sau nhà mẹ ruột của mình và về nhà còn Th được mọi người đưa đi cấp cứu.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Duyên Hải đã thu giữ được 01 (một) cây búa cán bằng gỗ có chiều dài 40cm, lưỡi bằng kim loại một đầu sắc có chiều dài 08cm, một đầu bằng có chiều dài 3,5cm, rộng 03cm. Phần lưỡi búa từ đầu sắc tới đầu bằng dài 13cm. Sau khi điều trị vết thương ổn định, ngày 25/02/2019 anh Nguyễn Văn Th đã làm đơn yêu được đi giám định thương tích và khởi tố vụ án hình sự theo quy định. Căn cứ vào Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 38/TgT ngày 07/3/2019 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Trà Vinh kết luận: gãy xương sườn 8, 9, 10 bên trái tỷ lệ là 6% (sáu phần trăm), cơ chế hình thành vết thương là do ngoại lực tác động vật gây ra thương tích là vật tày cứng.

Tại phiên tòa, bị cáo Đổ Văn Đ có lời khai thừa nhận đã có hành vi dùng búa gây thương tích cho ông Nguyễn Văn Th như cáo trạng truy tố. Bị hại ông Th không rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với bị cáo Đổ Văn Đ và đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại các khoản như sau: (1) Chi phí điều trị theo toa, chứng từ hợp lệ: 3.565.100 đồng, (2) chi phí xe đi nhập viện, ra viện, tái khám: 3.910.000 đồng va (3) ngày công lao động của bị hại, người nuôi bệnh 1.500.000 đồng

Đối với tiền tổn thất về tinh thần bị hại Nguyễn Văn Th yêu cầu bị cáo Đổ Văn Đ bồi thường 06 tháng; tiền tổn hại sức khỏe không lao động được 5 tháng x 9.000.000 đồng = 45.000.000 đồng. Đối với các khoản này, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị với Hội đồng xét xử áp dụng điềm a khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 9 tháng tù. Về dân sự đề nghị áp dụng các điều 584, 585 và 590 Bộ luật Dân sự công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại về các khoản tiền thỏa thuận được. các khoản về tổn thất tinh thần và tổn hại sức khỏe đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của luật. Về vật chứng: 01 (một) cây búa cán bằng gỗ có chiều dài 40cm, lưỡi bằng kim loại một đầu sắc có chiều dài 08cm, một đầu bằng có chiều dài 3,5cm, rộng 03cm đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo, bị hại và Kiểm sát viên không tranh luận đối đáp với nhau,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thẩm tra các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thấy rằng các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là đúng quy định pháp luật. Những người tham gia tố tụng không khiếu nại về hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Đổ Văn Đ khai: Vào khoảng hơn 17 giờ ngày 30/01/2019, tại nhà ông Nguyễn Văn Thảo thuộc ấp C, xã DTh, thị xã DH, do nghĩ đến việc con mình bị Th đánh nên bị cáo tức giận đã có hành vi dùng búa đánh nhiều cái vào lưng và hong sườn trái của ông Th gây thương tích. Xét lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của những người làm chứng, phù hợp với các thương tích trên người của bị hại, phù hợp với kết luận giám định pháp y và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Đổ Văn Đ có hành vi gây thương tích cho ông Th với tỷ lệ thương tật 06% là có thật. Mặt dù, tỷ lệ thương tật bị cáo gây ra cho ông Thảo dưới 11% theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, nhưng trong phần luận tội Kiểm sát viên đã viện dẫn quy định của pháp luật để khẳng định việc bị cáo sử dụng búa là loại hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho ông Th, nếu không có sự can ngăn kịp thời của một số người có mặt tại hiện trường thì hậu quả có thể sẽ nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của ông Nguyễn Văn Th. Bị cáo gây thương tích cho ông Th không phải do mâu thuẫn cá nhân từ trước mà xuất phát từ việc khi nghe con mình bị đánh nên bị cáo tức giận; do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp “Dùng hung khí nguy hiểm” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải là có căn cứ, phù hợp kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Do đó, xét cáo trạng số 13/CT-VKS-HS ngày 16/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải truy tố bị cáo Đổ Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo: bị cáo Đổ Văn Đ là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi xâm phạm đến sức khoẻ của người khác là vi phạm pháp luật, gây mất an ninh trật tự ở địa phương, nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và không có đồng phạm, bị cáo không phải đánh dằn mặt bị hại cho hả cơn giận mà khi bị hại đã bỏ chạy bị cáo vẫn rượt theo đánh tiếp nhiều cái vào người bị hại điều này thể hiện bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội đến cùng. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo mức án tù như đại diện Viện kiểm sát đề nghị thì mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và răn đe những hành vi tương tự cho xã hội trong tình hình hiện nay ở địa phương.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tự mình mang đến Cơ quan Thi hành án nộp 20.000.000đ để bồi thường cho bị hại vì bị hại không nhận. Bị cáo có bà nội Nguyễn Thị Ng được Nhà nước truy tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, cha ruột ông Đỗ Văn L tham gia kháng chiến chống Mỹ được Đảng, Nhà nước tặng nhiều huân, huy chương, kỷ niệm chương nên được áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại các khoản như chi phí điều trị theo toa, chứng từ hợp lệ 3.565.151 đồng; chi phí tiền xe đi nhập viện, ra viện, tái khám 3.910.000 đồng và ngày công lao động của bị hại, người nuôi bệnh cho bị hại (03 ngày) 1.500.000 đồng; tổng cộng 8.975.100 đồng, Sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại là tự nguyện và phù hợp các điều 584, 585 và 590 Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử công nhận. Đối với tiền tổn thất tinh thần Hội đồng xét xử chấp nhận cho bị hại 03 tháng bằng 4.170.000 đồng. Đối với tiền tổn hại sức khỏe không lao động được bị hại đưa ra mức 300.000 đồng một ngày với thời gian 05 tháng là cao so với thu nhập bình quân tại địa phương và so với mức độ tổn hại về sức khỏe của bị hại nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bị hại thời hạn 03 tháng với mỗi tháng là 7.500.000 đồng bằng số tiền 22.500.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) cây búa cán bằng gỗ có chiều dài 40cm, lưỡi bằng kim loại một đầu sắc có chiều dài 08cm, một đầu bằng có chiều dài 3,5cm, rộng 03cm. Đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội. Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn nộp án phí, giảm án phí và không thuộc trường hợp không phải nộp án phí nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự có giá ngạch 5%.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Đổ Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt Đổ Văn Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

- Việc bồi thường thiệt hại: Căn cứ các điều 584, 585, 590 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015: Công nhận thỏa thuận về việc bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn Th chi phí điều trị; chi phí tiền xe và ngày công lao động trong những ngày nằm viện tổng cộng bằng 8.975.151 đồng. Buộc bị cáo Đổ Văn Đ bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn Th tiền tổn thất tinh thần bằng 4.170.000 đồng; tiền công lao động do tổn hại sức khỏe bằng 22.500.000 đồng.

Tổng cộng các khoản bị cáo bồi thường 35.645.151 (ba mươi lăm triệu sáu trăm bốn mươi lăm nghìn một trăm năm mươi mốt) đồng.

Khi án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

- Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây búa cán bằng gỗ có chiều dài 40cm, lưỡi bằng kim loại một đầu sắc có chiều dài 08cm, một đầu bằng có chiều dài 3,5cm, rộng 03cm.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.782.257 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bán án được niêm yết hợp lệ.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND thị xã Duyên Hải;

- VKSND tỉnh Trà Vinh;

- Cơ quan CSĐTCA thị xã Duyên Hải;

- Cơ quan THAHSCA thị xã Duyên Hải;

- Nhà tạm giữ CA thị xã Duyên Hải;

- Lưu HSVA

Nguyễn Văn Truyền THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Văn Rô- Đoàn Bữu Lộc

Nguyễn Văn Truyền HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Quen- Dương Quốc Võ

Nguyễn Văn Truyền

Cỡ chữ