- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn Thắng - Phạm tội : Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoà n Văn Th, phạm tội “Cướ p tà i sả n”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH Bản án số : 09/2019/HS-ST Ngày 26/02/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩ m gồm có:
Thẩm phán-chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Căn và ông Nguyễn Văn Sự.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuấn.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố M tham gia phiên tòa: Ông Bù i Quang Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2019/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2019/HSST- QĐ ngày 12 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: ĐOÀ N VĂN T H (tên gọi khác: không); sinh ngày 20 tháng 10 năm 1996, tại: thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: Thôn x, xã V, thành phố M , tỉnh Quảng Ninh ; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Không; quố c tịch: Việ t Nam; dân tộ c: Kinh; tôn giá o: Không; con ông: Đoà n Văn B, đã chế t; con bà : Trầ n Thị L, sinh năm 1954; vợ, con: chưa có ; tiề n á n, tiề n sự : chưa; bị cáo đầ u thú ngà y 30/12/2018, hiệ n tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thà nh phố M, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
Bị hại: Trầ n Văn V, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyệ n T, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ngườ i là m chứ ng: Đỗ Văn V, Trầ n Văn H, Lê Văn M, Phạm Văn T, Trạc Văn Gi; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ , ngày 05/8/2014, Đoà n Văn T rủ Đoàn Văn Th, Đoà n Văn Q, Đoà n Văn H , Phạm Văn H và Hoàng Văn Tr chuẩn bị sẵn hung khí
gồ m tuýp sắt nhọ n, tuýp sắt gắn dao bầu , đoạ n cây tre khô và thanh gỗ để đi đe dọa chiế m đoạ t tà i sả n củ a anh Trầ n Văn V, sinh năm 1965, đị a chỉ : Xã Đ, huyệ n T, tỉnh Quảng Ninh khi anh V neo đậ u bè tạ i bế n C thuộ c thôn x, xã V, thành phố M. T sử dụ ng mộ t đoạ n gậ y tre dà i khoả ng 01m, T sử dụ ng mộ t chiế c tuýp sắt gắ n dao bầ u , Q sử dụ ng mộ t chiế c tuý p sắ t gắ n dao bầ u , Đoà n Văn H sử dụ ng mộ t chiế c tuý p sắ t có đầ u nhọ n , Phạm Văn H sử dụ ng mộ t chiế c gậ y gỗ ,Tr sử dụng một chiế c gậ y tre đe dọ a anh V phải rời khỏi bè và đưa tiền cho bọn chúng. Nế u không, chúng sẽ cắt tai anh V . Anh V van xin vì anh không có tiề n thì T dí hung khí và o cổ anh V đe dọa để anh V phải đưa tiền . Anh V hoảng sợ lấ y 1.000.000đ (mộ t triệ u đồ ng ) từ trong tú i á o ra đưa cho T nhưng T không đồ ng ý mà đò i 2.000.000đ (hai triệ u đồ ng ) và bắt anh V phải đưa nốt số tiền 1.000.000đ và o sá ng ngà y hôm sau; anh V đồ ng ý . Sau khi T, Th, Q, Tr, Đoà n Văn H, Phạm Văn H chiếm đoạt đượ c tiề n củ a anh V thì rủ nhau đi hát Karaoke và ăn tiêu hết.
Sau khi bị chiếm đoạt tài sản anh V đã đế n Công an trì nh bá o, ngay sau đó thì Đoàn Văn Q, Đoàn Văn H, Phạm Văn H, Hoàng Văn Tr bị bắ t và xé t xử ; Đối với Đoàn Văn T đã bỏ trố n khỏ i đị a phương, ngày 01/7/2015 thì bị bắt theo lệ nh truy nã . Đoà n Văn Th sau khi gây á n đã bỏ trố n, đến ngày 30/12/2018 thì Th đến cơ quan Công an đầu thú.
Tại phiên tòa bị cáo có lời khai thể hiện : Khi đượ c T rủ đi chiếm đoạt tài sản ở khu vực bế n C, thì bị cáo , Q, Đoà n Văn H , Phạm Văn H , Tr đều đồ ng ý . Tấ t cả đề u mang theo hung khí , trong đó bị cá o mang theo mộ t đoạ n gậ y tre. Tại bến C, thuộ c thôn x, xã V, thành phố M, bị cáo dùng gậy tre cùng đồng bọn đe dọ a và cướ p củ a anh V số tiề n 1.000.000đ. Sau khi cướ p xong thì cả bọn đã tiêu xài hết.
Bị hại là anh Trầ n Văn V có lời khai thể hiện : Ngày 05/8/2014, khi anh neo đậu bè tại bến C thì bị T , Q, Th, Đoà n Văn H, Phạm Văn H và Tr sử dụng hung khí đe dọ a yêu cầ u anh phả i đưa 5.000.000đ, nhưng anh không có mà chỉ có 1.000.000đ đưa cho chú ng.
Ngườ i là m chứ ng anh Đỗ Văn V , Trầ n Văn H , Lê Văn M, Phạm Văn T và Trạc Văn Gi đều được chứ ng kiế n b ị cáo sử dụ ng hung khí đe dọa chiế m đoạ t củ a anh V số tiề n là 1.000.000đ.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS-MC, ngày 28 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo Đoà n Văn Th về tội: “Cướ p tà i sả n” theo quy đị nh tạ i điể m d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phần tranh luận, Đạ i diệ n Việ n kiể m sá t giữ nguyên quyế t đị nh truy tố , đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng : Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạ t: Đoà n Văn Th từ 04(bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06(sáu) tháng tù, thờ i gian chấ p hà nh hì nh phạ t tù đượ c tí nh từ ngà y bị bắt, ngày 30/12/2018.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối vớ i bị cá o.
- Về phần bồi thường dân sự và xử lý vậ t chứ ng: Đã đượ c xem xét tại Bản án số 12/2015/HSST ngà y 05/02/2015, nên không đề cập.
Bị cáo thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã tuy tố; không có nội dung tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên Tòa .
Trong lờ i nó i sau cù ng : Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tộ i danh : Lờ i nhậ n tộ i củ a bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo đã bị xé t xử trướ c đó , phù hợp với lời khai của bị hại và những người làm chứng , sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngà y 05/8/2014, tại bến C, thuộ c thôn x, xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Đoà n Văn Th cùng với Đoàn Văn T , Đoà n Văn Q , Đoà n Văn H, Phạm Văn H và Hoàng Văn Tr đã có hành vi dùng hung khí đe dọa chiếm đoạt của anh Trần Văn V số tiề n là 1.000.000đ (mộ t triệ u đồ ng).
Do đó , việ c đưa bị cá o ra xé t xử công khai là cầ n thiế t và buộ c bị cá o phả i chịu trách nhiệm về hành vi của mình, đả m bả o tí nh nghiêm minh củ a phá p luậ t, đề cao tính giáo dục và phòng ngừa chung.
Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện vào ngày 05/8/2014, thờ i điể m Bộ luậ t hì nh sự năm 1999 có hiệu lực. Sau khi thự c hiệ n hà nh vi phạ m tộ i bị cá o đã bỏ trố n , đến ngày 30/12/2018 bị cáo mới ra đầ u thú. So sánh Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt cao nhất thấp hơn khung hình phạt cao nhất quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999. Nên, căn cứ Nghị quyế t số 41 của Quốc hội và khoản 3 Điề u 7 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015 thì hành vi phạ m tộ i củ a bị cá o sẽ áp dụng Bộ luật hình sự có hiệu lực tại thời điểm xét xử là Bộ luậ t hì nh sự năm 2015. Hành vi phạm tộ i củ a bị cá o Đoà n Văn Th đã thỏa mãn tình tiết quy định tại điể m d kh oản 2 Điề u 168 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015. Do đó , Hộ i đồ ng xé t xử đủ cơ sở kế t luậ n bị cáo Đoà n Văn Th phạm tội “Cướ p tà i sả n” quy đị nh tạ i điể m d khoả n 2 Điề u 168 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015 như nội dung bả n cá o trạ ng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố M đã truy tố là có cơ sở, đú ng ngườ i, đú ng tộ i.
Về hình phạt chí nh:
Xét vai trò phạm tộ i: Bị cáo cố ý thực hiện mộ t tộ i phạ m, khi đượ c T rủ đi chiế m đoạ t tà i sả n thì bị cáo cùng Đoà n Văn Q, Đoà n Văn H , Phạm Văn H , Hoàng Văn Tr đều nhất trí và chuẩn bị sẵn công cụ để thực hiện hành vi phạm tội. Khi T dùng hung khí đe dọa đối với bị hại, bị cáo cũng chuẩn bị sẵn gậy tre trên tay và đứng phía sau T mục đích nếu bị hại chống cự lại thì sẵn sàng giúp sức cho T và đồng bọn thực hiện hành vi đe dọa cướp tài sản của bị hại.
T là người khởi xướng và thực hiện hành vi tích cực nhất nên giữ vai trò chính, bị cáo và đồng bọn tiếp nhận ý chí của T và thực hiện tích cực nên giữ vai trò là ngườ i thự c hà nh, mức hình phạt thấ p hơn T. Khi quyế t đị nh hì nh phạ t cầ n xem xé t tì nh tiế t tăng nặ ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau thời gian bỏ trốn thấy việc làm của mình là vi phạm nên ngày 30/12/2018, bị cáo đã đến cơ quan Công an đầ u thú ; Trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và tại phiên tòa, bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tham gia với vai trò thấp hơn; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo . Nên, cần thiết cho bị cá o đượ c hưở ng cá c tì nh tiế t giả m nhẹ quy đị nh tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Căn cứ và o cá c quy đị nh củ a B ộ luật hình sự , sau khi cân nhắ c tí nh chấ t , mứ c độ nguy hiể m cho xã hộ i củ a hà nh vi phạ m tộ i , nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và việ c phân hó a vai trò thự c hiệ n tộ i phạ m . Hộ i đồng xét xử thấy, cầ n thiế t phả i á p dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích.
Xét bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi (bị cáo sinh ngày 20/10/1996, phạm tội ngày 05/8/2014) nên bị cáo được hưởng chính sách hình sự nhân đạo của nhà nước đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại đoạn 2 khoản 6 Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về hì nh phạ t b ổ sung: Không á p dụ ng hì nh phạ t bổ sung là phạt tiền đố i vớ i bị cá o theo quy định tại đoạn 3 khoản 6 Điều 91 Bộ luật hình sự 2015.
Về trá ch n hiệ m dân sự : Anh Trầ n Văn V đã được bồi thường thiệt hại và không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không đề cậ p.
Về xử lý vậ t chứ ng : Đã được giải quyết tại bản án số 12/2015/HSST ngày 05/02/2015 của Tòa án nhân dân thà nh phố M , tỉnh Quảng Ninh nên không đề cậ p.
Xét những chứng cứ mà Kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được cơ quan điều tra thu thập theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng Hình sự quy định; Tại phiên tòa bị cáo cũng đã thừa nhận thực hiện hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Nên lời buộc tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩ m : Bị cáo phải chịu t iề n á n phí hình sự sơ thẩm th eo quy đị nh tạ i khoản 2 Điề u 135; Khoản 2 Điề u 136 Bộ luậ t tố tụ ng Hì nh sự và điể m a khoả n 1 Điề u 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy đị nh về mứ c thu, miễ n, giảm, thu, nộ p, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tò a á n.
Về quyề n khá ng cá o: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy đị nh củ a phá p luậ t.
Trong vụ á n bị cá o Đoà n Văn T đã bị Tò a á n nhân dân thà nh phố M , tỉnh Quảng Ninh xét xử tại bản án số 105/2015/HSST ngà y 10/9/2015, các bị cáo Đoàn Văn Q, Đoà n Văn H, Phạm Văn H, Hoàng Văn Tr đã bị Tòa án nhân dân thà nh phố M , tỉnh Quảng Ninh xét xử tại bản án số 12/2015/HSST ngà y 05/02/2015, nên không đề cậ p.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đoà n Văn Th, phạm tội “Cướ p tà i sả n”.
Áp dụng: Điể m d k hoản 2 Điề u 168; khoản 3 Điề u 7; điể m s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điề u 17; Điề u 58; khoản 1 Điều 38; khoản 6 Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luậ t Hình sự năm 2015.
Xử phạ t: Đoà n Văn Th 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam; ngày 30/12/2018.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điề u 135; khoản 2 Điều 136; điể m a khoản 1 Điề u 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đoà n Văn Th phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 331; Khoản 1 Điề u 333 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Báo cho bị cáo Đoà n Văn Th biế t có quyề n khá ng cá o bản án sơ thẩ m trong thờ i hạ n 15 ngày (mườ i lăm) ngày kể từ ngày tuyên án ngày 26/02/2019; Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy đị nh củ a phá p luậ t.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh - VKSND thành phố M; - Công an tp M; - Thi hành án (HS; DS); - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Vũ Thị Thanh Phƣơng |