- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh T phạm tội "Trộm cắp tài sản". - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Vũ Phương phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2019/HS-ST Ngày: 28-02-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Hòa
- Các hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Viết Thanh
Ông Nguyễn Đình Đoan Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Tuyết Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Lê Thành Hiếu - Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 28 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 08/2019/TLST-HS, ngày 30 tháng 01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2019/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh T, sinh ngày 12/01/1998, tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Tổ 09, ấp Tịnh Châu, xã Tịnh Thới, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Thành Nhơn, sinh năm 1980; và bà Trần Minh Hòa, sinh năm 1975; Bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con lớn trong gia đình; Tiền án: 02 tiền án: Ngày 09/8/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xử phạt 09 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 23/02/2017. Ngày 31/10/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 17/8/2018. Hiện bị cáo đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt
Bị hại:
Đỗ Văn Phương, sinh năm 1960. Có mặt
Nơi cư trú: Tổ 48, khóm 5, phường 6, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Minh T có 02 tiền án về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 09/8/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xử phạt 09 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 23/02/2017. Ngày 31/10/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 17/8/2018.
Khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 22/11/2018, Nguyễn Minh T điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu MIKADO, màu đỏ-đen-bạc, biển số 66M4-1563 của ông Nguyễn Thành Nhơn (cha ruột của Thuận) từ nhà chạy lên phường 6, thành phố Cao Lãnh để đi chơi. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 23/11/2018, Thuận chạy đến nhà ông Đỗ Văn phương, ngụ số 40, tổ 48, khóm 5, phường 6, thành phố Cao Lãnh thấy con gà trống nòi, loại gà thả vườn đang nằm ngủ trên đống củi ven đường nhìn xung quanh không thấy ai, Thuận nảy sinh ý định chiếm đoạt con gà ra chợ bán lấy tiền tiêu xài. Thuận dừng xe lại, bước đến chỗ con gà dùng hai tay bắt lấy cổ con gà rồi nhanh chóng lên xe tẩu thoát. Trên đường đi tìm nơi tiêu thụ, khi đến đường Bùi Văn Chiêu, khóm Mỹ Hưng, phường 3, thành phố Cao Lãnh, Thuận bị Công an phường 3 mời về trụ sở làm việc. Tại đây, Thuận thừa nhận hành vi trộm gà của ông Đỗ Văn Phương.
Công an phường 3, thành phố Cao Lãnh thu giữ tang vật 01 con gà trống nòi, loại gà thả vườn, chân vàng, trọng lượng 1,6kg, 01 xe mô tô biển số 66M4-1563, 01 kiềm cộng lực dài khoảng 20cm, 01 tua vít dài khoảng 20cm, 01 cái đèn pin, loại đèn soi.
Theo kết luận định giá tài sản số 122/KL-ĐGTS ngày 29/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 con gà tống nòi, loại gà thả vườn, chân vàng, trọng lượng 1,6kg, trị giá 192.000 đồng.
Ngày 29/11/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh đã trao trả con gà nòi mà Thuận đã lấy trộm cho ông Đỗ Văn Phương.
Đối với xe mô tô biển số 66M4-1563, 01 kiềm cộng lực dài khoảng 20cm, 01 tua vít dài khoảng 20cm, 01 cái đèn pin, loại đèn soi, là công cụ của Nguyễn Thành Nhơn để trong cốp xe để sử dụng hàng ngày. Khi Thuận lấy xe đi trộm gà, không biết tài sản đó có trong cốp xe có sẳn, đây là xe mô tô của anh Nhơn. Anh Nhơn không biết việc Thuận sử dụng xe vào việc phạm tội nên ngày 07/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh trả lại cho chủ sở hữu.
Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKSND-TPCL, ngày 29/01/2019, của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Thuận đã thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Minh T về tội trộm cắp tài sản.
Về tình tiết tăng nặng: Không
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Minh T xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Nguyễn Minh T có 02 tiền án về hành vi “Trộm cắp tài sản”, nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt, trở về địa phương không cải sữa để trở thành một công dân tốt để lao động có thu nhập chính đáng bằng chính mồ hôi công sức của mình mà ngược lại, với bản tính lười lao động, tham lam, bị cáo tiếp tục phạm tội, nên khi thấy tài sản của người bị hại không quản lý thì bị cáo thực hiện tội phạm nhằm chiếm đoạt tài sản của người bị hại.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát xác định bị cáo Nguyễn Minh T là người đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 01 con gài nòi, trọng lượng 1,6kg của ông Đỗ Văn Phương trị giá 192.000 đồng.
Việc Viện kiểm sát truy tố bị cáo Thuận ra trước phiên tòa về hành vi phạm tội như đã nêu trên là có căn cứ, cũng như lời luận tội của kiểm sát viên đối với bị cáo là đúng và phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, cùng với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận lời luận tội của kiểm sát viên đối với bị cáo Nguyễn Minh T là đúng và hành vi của bị cáo là có tội.
Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại điểm b khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1/ Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…”
a/…..
b/ Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương nơi xảy ra vụ án. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là việc làm cần thiết.
Bị cáo Nguyễn Minh T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe để lao động nuôi sống bản thân và gia đình, nhưng do bản thân không có nghề nghiệp ổn định, bản tính tham lam, nên đã có hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Do đó, bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định là cần thiết, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:
Về tình tiết tăng nặng: Không
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T 01 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét.
Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo Nguyễn Minh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SƠ THẨM
THAÅM PHAÙN- CHUÛ TOÏA PHIEÂN TOØA Nôi nhaän:
- VKSND TPCL;
- Coâng an TPCL;
- Toøa aùn tænh ÑT;
- Bò caùo; bị hại;
- Löu hoà sô vụ án.
Huỳnh Thanh Hòa TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ CAO LÃNH
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phố Cao Lãnh, ngày 02 tháng 7 năm 2018
TRÍCH LỤC BẢN ÁN HÌNH SỰ
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 19/2018/HSST, ngày 30 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xét xử đối với bị cáo có lý lịch sau:
Phạm Vũ Phương, sinh năm 1973, tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Khóm Tân Thuận, thị trấn Thanh Bình, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp; Chổ ở: không có chổ ở nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 06/12, dân tộc: kinh, giới tính: nam; tôn giao: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn Tùng, sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị No, sinh năm 1951; bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con lớn trong gia đình; có vợ đã ly hôn; có 01 người con sống chung với mẹ; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 02/10/2017, bị Công an phường 2 xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; Tạm giữ: 29/3/2018; Tạm giam: Ngày 01/4/2018. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp.
Bị hại:
Lê Minh Ngọc, sinh năm 1984.
Nơi cư trú: Số 95, Cách Mạng Tháng Tám, khóm 4, phường 2, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Vũ Phương phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, h, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Vũ Phương 07 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2018.
Về trách nhiệm dân sự:
Tài sản người bị hại đã nhận lại và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét
Về án phí:
Bị cáo Phạm Vũ Phương phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
ĐỂ THI HÀNH
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH
CHÁNH ÁN
| Nơi nhận: - Người chấp hành án; - VKSNDTPCL - Cơ quan THAHS-CA Đồng Tháp - Trại tạm giam nơi người phải chấp hành án đang bị tạm giam - Cơ quan THAHS-CA TPCL - Sở tư pháp tỉnh Đồng Tháp - TAND tỉnh Đồng Tháp. - Chi cục THA-DS TPCL - Lưu Hồ sơ. | Nguyễn Xuân Trà |