vanban.org

Bản án 09/2019/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Lai Châu Tuyên án 20/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/- Tuyên bố bị cáo Vƣơng Văn D phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

2/- Về trách nhiệm dân sự: Ngƣời có quyền lợi liên quan Chu Mạnh H là 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng); Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Văn D - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/- Tuyên bố bị cáo Vƣơng Văn D phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2019/HS-ST
Ngày 20-3-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa:

Ông Nguyễn Xuân Hòa Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Long

Ông Lò Việt Tuyển

- Thư ký phiên tòa:

Bà Đỗ Thị Phƣơng Thanh - Thƣ ký TAND tỉnh

- Đại diện VKS tham gia phiên tòa: Ông Lê Sỹ Hiếu - Kiểm sát viên

Trong ngày 20 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 04/2018/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 09/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2019, đối với bị cáo:

VƢƠNG VĂN D, sinh ngày 01 tháng 02 năm 1995 tại huyện P, tỉnh L;

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở trƣớc khi bị bắt: bản N, xã M, huyện T, tỉnh L; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vƣơng Văn T (đã chết) và con bà Tạ Thị Th, sinh năm 1958; có vợ là: Tòng Thị Nh, sinh năm 1990 và có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không có; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/7/2018 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo:

Ông Lê Văn Hùng – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nƣớc tỉnh Lai Châu. (có mặt)

- Bị hại:

+ Vƣơng Hào Q, sinh năm 1992; nơi cƣ trú: phƣờng Đ, thành phố L, tỉnh L; (xin xét xử vắng mặt)

+ Nguyễn Thị Thanh Nh, sinh năm 1984; nơi cƣ trú: phƣờng Q, thành phố L, tỉnh L; (vắng mặt không có lý do)

+ Ngà Văn H, sinh năm 1983; nơi cƣ trú: bản C, xã M, huyện T, tỉnh L; (có mặt)

+ Nguyễn Đình Th, sinh năm 1976; nơi cƣ trú: khu 10, thị trấn T, huyện T, tỉnh L; (có mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Nguyễn Văn H, sinh năm 1981; nơi cƣ trú: phƣờng T, thành phố L, tỉnh L; (vắng mặt không có lý do)

+ Lê Thanh Ng, sinh năm 1970; nơi cƣ trú: phƣờng Đ, thành phố L, tỉnh L; (vắng mặt không có lý do)

+ Chu Mạnh H, sinh năm 1986; nơi cƣ trú: phƣờng D, thành phố L, tỉnh L. (có mặt)

- Người làm chứng:

+ Nguyễn Văn A, sinh năm 1989; nơi cƣ trú: phƣờng T, thành phố L, tỉnh L; (có mặt)

+ Kim Thị H, sinh năm 1983; nơi cƣ trú: phƣờng T, thành phố L, tỉnh L; (có mặt)

+ Vƣơng Quốc Ch, sinh năm 1971; nơi cƣ trú: phƣờng Đ, thành phố L, tỉnh L. (có mặt)

- Những người được Tòa án triệu tập đến phiên tòa:

+ Vũ Công H, sinh năm 1985; nơi cƣ trú: bản T, phƣờng T, thành phố L, tỉnh L; (có mặt)

+ Lƣơng Văn U, sinh năm 1980; nơi cƣ trú: bản T, phƣờng Đ, thành phố L, tỉnh L; (có mặt)

+ Bùi Xuân Th, sinh năm 1984; nơi cƣ trú: phƣờng T, thành phố L, tỉnh L; (có mặt)

+ Nguyễn Văn Th, sinh năm 1985; nơi cƣ trú: phƣờng Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu; (có mặt)

+ Trần Văn Th, sinh năm 1975; nơi cƣ trú: bản T, phƣờng Đ, thành phố L, tỉnh L. (vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo

Với thủ đoạn hợp đồng thuê xe ô tô tự lái, sau khi nhận đƣợc xe Vƣơng Văn D đã không sử dụng xe làm phƣơng tiện đi lại nhƣ cam kết mà mang xe ô tô đi cầm cố, thế chấp để lấy tiền sử dụng vào mục đích cá nhân, không trả lại xe cho các chủ sở hữu. Trong khoảng thời gian từ ngày 25/02/2018 đến ngày 05/4/2018, D đã lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt 05 xe ô tô với tổng giá trị là 2.150.000.000 đồng của 04 cá nhân trên địa bàn thành phố Lai Châu và huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. Khi bị phát hiện và khởi tố, D đã bỏ trốn đến ngày 24/7/2018 thì bị bắt theo quyết định truy nã của cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lai Châu. Các lần chiếm đoạt tài sản cụ thể nhƣ sau:

Lần thứ nhất: sáng ngày 25/02/2018, D đến cửa hàng cho thuê xe ô tô tự lái của anh Vƣơng Hào Q để thuê xe ô tô tự lái. Sau khi thỏa thuận, D ký hợp đồng thuê 01 xe ô tô loại 04 chỗ, màu trắng, hiệu NISSAN SUNNY mang biển kiểm soát 25A-023.42 với giá thuê 800.000 đồng/ngày, thời gian thuê từ ngày 25/02/2018 đến ngày 26/02/2018 để làm phƣơng tiện đi lại. D đã trả 800.000 đồng tiền thuê 01 ngày chiếc xe trên. Đến ngày 26/02/2018, D và anh Q có thỏa thuận lại qua điện thoại để D tiếp tục thuê chiếc xe trên với giá 20.000.000 đồng/tháng, thời gian thuê từ ngày 27/02/2018 đến ngày 29/03/2018. Sau khi thuê đƣợc xe trên đƣợc khoảng 10 ngày, D nảy sinh ý định cắm xe ô tô vay tiền để sử dụng vào mục đích cá nhân (theo D khai cắm xe để lấy tiền trả nợ tiền thua bạc), D mang xe ô tô trên đến cắm cho anh Lƣơng Văn U lấy số tiền 50.000.000 đồng với hình thức D viết giấy vay tiền của U 50.000.000 đồng. Khoảng mấy ngày sau, anh U yêu cầu D trả tiền và mang xe đi chỗ khác nên D gọi điện cho anh Vũ Công H để vay 100.000.000 đồng. Sau khi vay tiền, D trả cho anh U 50.000.000 đồng, số tiền còn lại D khai đã dùng đánh bạc hết.

Theo kết luận định giá tài sản số 12, ngày 01/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lai Châu đã xác định: xe ô tô NISSAN SUNNY biển kiểm soát 25A-023.42 có giá trị 450.000.000 đồng. Ngày 11/4/2018 cơ quan điều tra đã tạm giữ chiếc xe trên cùng các giấy tờ liên quan từ anh Vũ Công H, hiện chiếc xe ô tô này đã đƣợc cơ quan điều tra giao cho anh Q là chủ sở hữu để tạm thời quản lý.

Lần thứ hai: ngày 11/3/2018, D từ thành phố Lai Châu đến nhà anh Nguyễn Đình Th để thuê xe ô tô đi làm công trình tại thành phố Lai Châu. Qua thỏa thuận, D ký hợp đồng thuê 01 xe ô tô TOYOTA INNOVA G màu ghi bạc loại 07 chỗ, biển kiểm soát 30A-503.80 của anh Th với giá 12.000.000 đồng/tháng, thời gian thuê từ 11/3/2018 đến 09/4/2018. Sau khi ký hợp đồng, D trả trƣớc 6.000.000 đồng tiền thuê xe, anh Th đƣa toàn bộ giấy tờ xe cho D, D sử dụng xe đi lại trong thành phố Lai Châu. Đến ngày 22/3/2018, do không có tiền trả nợ (D khai do đánh bạc thua nợ) nên D đã cắm chiếc xe trên cho anh Nguyễn Văn H để vay 250.000.000 đồng và đến ngày 06/4/2018 D tiếp tục trả tiền thuê xe cho anh Th là 15.000.000 đồng (tiền thuê xe và tiền nợ trƣớc đó).

Theo kết luận định giá tài sản số 18, ngày 10/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lai Châu đã xác định: xe ô tô TOYOTA INNOVA G, biển kiểm soát 30A-503.80 có giá trị 280.000.000 đồng. Ngày 22/9/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lai Châu đã tạm giữ chiếc xe trên cùng các giấy tờ liên quan từ chị Kim Thị H (kế toán của công ty anh Nguyễn Văn H), hiện chiếc xe ô tô này đã đƣợc cơ quan điều tra giao cho anh Nguyễn Đình Th là chủ sở hữu để tạm thời quản lý.

Lần thứ ba: ngày 28/3/2018, D đến gặp chị Nguyễn Thị Thanh Nh để thuê xe ô tô tự lái làm phƣơng tiện đi lại. Qua thỏa thuận, D ký hợp đồng với chị Nh thuê 01 chiếc xe ô tô loại xe bán tải màu trắng, hiệu CHEVROLET COLORAD LTZ, biển kiểm soát 25C-028.26 với giá 25.000.000 đồng/tháng, thời gian thuê từ ngày 28/3/2018 đến 28/4/2018. Theo D khai, do không có tiền trả nợ tiền thua bạc nên ngày 31/3/2018 D đƣa xe ô tô trên đến cầm cố với anh Chu Mạnh H để vay 02 lần với tổng số tiền là 300.000.000 đồng.

Theo kết luận định giá tài sản số 14, ngày 18/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lai Châu đã xác định: xe ô tô CHEVROLET COLORAD LTZ, biển kiểm soát 25C-028.26 có giá trị 720.000.000 đồng. Ngày 06/6/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lai Châu đã tạm giữ chiếc xe trên cùng các giấy tờ liên quan từ anh Chu Mạnh H, hiện chiếc xe ô tô này đã đƣợc cơ quan điều tra giao cho chị Nguyễn Thị Thanh Nh để tạm thời quản lý.

Lần thứ tư: ngày 02/4/2018, D về nhà ở bản Ngà, xã Mƣờng Than, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu rồi gọi điện thoại cho anh Ngà Văn H để thuê xe ô tô tự lái. Quá trình giao dịch hai bên không làm hợp đồng bằng văn bản mà thống nhất bằng lời nói với nội dung: D thuê 01 chiếc xe ô tô loại 04 chỗ màu trắng, hiệu DAEWO GENTRA, biển kiểm soát 25A-022.71 của anh H với giá 600.000 đồng/ngày, thời gian thuê khoảng 02 – 03 ngày, thời gian thuê tính từ ngày 02/4/2018. Sau đó, anh H giao xe và giấy tờ xe, thuê đƣợc xe, D điều khiển lên thành phố Lai Châu luôn. D khai nhận do nợ nần thua bạc từ trƣớc với nhiều ngƣời nên nảy sinh ý định cầm cố chiếc xe lấy tiền trả nợ và tiêu xài, D đƣa xe đến nhà anh Lê Thanh Ng cắm để vay 100.000.000 đồng.

Theo kết luận định giá tài sản số 12, ngày 01/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lai Châu đã xác định: xe ô tô DAEWO GENTRA, biển kiểm soát 25A-022.71 có giá trị 150.000.000 đồng. Ngày 12/4/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lai Châu đã tạm giữ chiếc xe trên cùng các giấy tờ liên quan từ anh Lê Thanh Ng, hiện chiếc xe ô tô này đã đƣợc cơ quan điều tra giao cho anh Ngà Văn H là chủ sở hữu để tạm thời quản lý.

Lần thứ năm: ngày 05/4/2018, D tiếp tục đến cửa hàng cho thuê xe tự lái của anh Vƣơng Hào Q, D gặp anh Vƣơng Quốc Ch (là ngƣời quản lý dịch vụ cho thuê xe tự lái cho anh Q) tiếp tục thuê 01 xe ô tô 04 chỗ màu nâu vàng, hiệu TOYOTA COROLLA ZRE 143L, biển kiểm soát 25A-007.45. Qua thỏa thuận, hai bên làm hợp đồng thuê từ ngày 04/4/2018 đến 06/4/2018 với giá thuê 900.000 đồng/ngày. D đặt cọc cho anh Ch 10.000.000 đồng. Thuê đƣợc xe xong, D điều khiển xe đi về Than Uyên thì anh Nguyễn Đình Th gọi điện đòi D trả tiền thuê xe và nhắc D thời hạn phải trả xe thuê INNOVA, biển kiểm soát 30A-503.80 mà D đã thuê trƣớc đó. Chiếc xe của anh Th, D đã cắm để vay tiền của anh Nguyễn Văn H nhƣng D nói dối vẫn thuê xe bình thƣờng và đang cho bạn mƣợn. D nảy sinh ý định cắm xe vừa thuê của anh Q để lấy tiền trả nợ, do đó trong ngày 05/4/2018 D lái xe ra Lào Cai cắm cho anh Chu Mạnh H lấy 150.000.000 đồng. D đã trả tiền thuê xe cho anh Nguyễn Đình Th 15.000.000 đồng, số còn lại D khai mang về Lai Châu đánh bạc thua hết.

Theo kết luận định giá tài sản số 14, ngày 18/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lai Châu đã xác định: xe ô tô TOYOTA loại COROLLA ZRE 143L, biển kiểm soát 25A-007.45 có giá trị 550.000.000 đồng. Ngày 06/6/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lai Châu đã tạm giữ chiếc xe trên cùng các giấy tờ liên quan từ anh Chu Mạnh H, hiện chiếc xe ô tô này đã đƣợc cơ quan điều tra giao cho anh Vƣơng Hào Q là chủ sở hữu để tạm thời quản lý.

Tại phiên tòa, bị cáo Vƣơng Văn D thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những ngƣời tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu chứng cứ đƣợc thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra, cụ thể nhƣ sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 25/02/2018 đến 05/4/2018, bị cáo đã thuê 05 xe ô tô tự lái, bao gồm: xe NISSAN SUNNY, biển kiểm soát 25A-023.42 của anh Vƣơng Hào Q, sau đó mang cầm cố cho anh Vũ Công H lấy 100 triệu đồng; xe TOYOTA INNOVA G, biển kiểm soát 30A-503.80 của anh Nguyễn Đình Th, sau đó mang đi cầm cố cho anh Nguyễn Văn H lấy 250 triệu đồng; xe CHEVROLET COLORAD LTZ, biển kiểm soát 25C-028.26 của chị Nguyễn Thị Thanh Nh, sau đó mang cầm cố cho anh Chu Mạnh H lấy 300 triệu đồng; xe DAEWO GENTRA, biển kiểm soát 25A-022.71 của anh Ngà Văn H, sau đó mang đi cầm cố cho anh Lê Thanh Ng lấy 100 triệu đồng; xe TOYOTA COROLLA ZRE, biển kiểm soát 25A-007.45 của anh Vƣơng Hào Q, sau đó mang đi cầm cố cho anh Chu Mạnh H lấy 150 triệu đồng. Mỗi lần thuê xe tự lái, bị cáo đều thỏa thuận với các chủ sở hữu về việc không bán, không cầm cố, không thế chấp xe thuê, nhƣng sau đó bị cáo mang những xe thuê đƣợc đi cầm cố và nói dối với những ngƣời nhận cầm cố là xe của mình đã bị mất giấy tờ mua bán nên xe không mang tên chính chủ hoặc xe góp vốn cùng với chủ sở hữu để cho thuê lại hoặc xe của ngƣời thân để lấy tiền tiêu xài cá nhân và theo bị cáo khai nhận đã dùng vào việc đánh bạc.

Về các vấn đề khác của vụ án

- Về trách nhiệm dân sự:

+ Tại phiên tòa: những bị hại (Nguyễn Đình Th, Ngà Văn H) trình bày về việc đã nhận lại đƣợc xe ô tô và không yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng thiệt hại; ngƣời có quyền lợi liên quan (Chu Mạnh H) yêu cầu bị cáo trả lại 450 triệu đồng đã cho bị cáo vay.

+ Trong giai đoạn điều tra: bị hại (Vƣơng Hào Q) không yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng thiệt hại; bị hại (Nguyễn Thị Thanh Nh) yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng thiệt hại số tiền 80 triệu đồng; ngƣời có quyền lợi liên quan (Nguyễn Văn H) yêu cầu bị cáo trả lại 250 triệu đồng; ngƣời có quyền lợi liên quan (Lê Thanh Ng) yêu cầu bị cáo trả lại 100 triệu đồng.

+ Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa: ngƣời đƣợc tòa án triệu tập đến phiên tòa (Vũ Công H) không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền cho vay 100 triệu đồng.

- Về vật chứng vụ án: trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành thu hồi và tạm thời trao trả các xe ô tô mà bị cáo chiếm đoạt cho những bị hại là chủ sở hữu.

- Theo khai nhận của bị cáo về việc bị cáo dùng tiền cầm cố xe để đánh bạc nhƣng quá trình điều tra, truy tố và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa chƣa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc đối với bị cáo và các đối tƣợng khác có liên quan.

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKSLC-P2 ngày 28/11/2018 của VKSND tỉnh Lai Châu truy tố Vƣơng Văn D về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 của Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 4 Điều 175, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ bị cáo từ 17 - 18 năm tù và buộc bị cáo phải bồi thƣờng thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, ngƣời bào chữa nêu nguyên nhân, điều kiện phạm tội của bị cáo là do bị các đối tƣợng khác rủ rê, lôi kéo vào con đƣờng cờ bạc nên túng quẫn làm liều; bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, nhất thời phạm tội; bị cáo là ngƣời dân tộc thiểu số, sinh sống vùng miền núi nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế; quá trình điều tra và xét xử đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản (05 chiếc xe ô tô đã đƣợc thu hồi và trả cho chủ sở hữu) nên đã góp phần giảm bớt tác hại của tội phạm; riêng hành vi thuê xe ô tô NISSAN SUNNY biển kiểm soát 25A-023.42, sau đó bị cáo cho anh Vũ Công H mƣợn để sử dụng chƣa đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội; cần tách việc hoàn trả 250 triệu của bị cáo đối với anh Nguyễn Văn H ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu. Ngƣời bào chữa đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) và miễn án phí cho bị cáo.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo đƣợc hƣởng lƣợng khoan hồng của pháp luật để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòa, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Trong khoảng thời gian từ ngày 25/02/2018 đến 05/4/2018, bị cáo Vƣơng văn D đã thuê 05 xe ô tô tự lái, bao gồm: xe NISSAN SUNNY, biển kiểm soát 25A-023.42 của anh Vƣơng Hào Q trị giá 450 triệu đồng, sau đó mang cầm cố cho anh Vũ Công H lấy 100 triệu đồng; xe TOYOTA INNOVA G, biển kiểm soát 30A-503.80 của anh Nguyễn Đình Th trị giá 280 triệu đồng, sau đó mang đi cầm cố cho anh Nguyễn Văn H lấy 250 triệu đồng; xe CHEVROLET COLORAD LTZ, biển kiểm soát 25C-028.26 của chị Nguyễn Thị Thanh Nh trị giá 720 triệu đồng, sau đó mang cầm cố cho anh Chu Mạnh H lấy 300 triệu đồng; xe DAEWO GENTRA, biển kiểm soát 25A-022.71 của anh Ngà Văn H trị giá 150 triệu đồng, sau đó mang đi cầm cố cho anh Lê Thanh Ng lấy 100 triệu đồng; xe TOYOTA COROLLA ZRE, biển kiểm soát 25A-007.45 của anh Vƣơng Hào Q trị giá 550 triệu đồng, sau đó mang đi cầm cố cho anh Chu Mạnh H lấy 150 triệu đồng. Mỗi lần thuê xe tự lái, bị cáo đều thỏa thuận với các chủ sở hữu (hoặc đại diện cho chủ sở hữu) về việc không bán, không cầm cố, không thế chấp xe thuê, nhƣng sau đó bị cáo mang những xe thuê đƣợc đi cầm cố và để vay đƣợc tiền thì bị cáo nói dối với những ngƣời nhận cầm cố là xe của mình đã bị mất giấy tờ mua bán nên xe không mang tên chính chủ hoặc xe của bị cáo góp vốn cùng với chủ sở hữu có tên chính chủ để cho thuê lại hoặc xe của ngƣời thân vì cần tiền nên cho đi cầm cố. Bản thân bị cáo nhận thức đƣợc rằng khi nói xe đi thuê và không đƣợc cầm cố thì sẽ không thể vay đƣợc tiền nên bị cáo phải gian dối với những ngƣời nhận cầm cố xe để đạt mục đích vay đƣợc tiền. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 2.150.000.000 đồng và bị cáo đã mang đi tiêu xài cá nhân.

Bị cáo Vƣơng Văn D là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thuê đƣợc tài sản (xe ô tô) của ngƣời khác rồi dùng thủ đoạn gian dối mang cầm cố các xe ô tô đã thuê để lấy tiền tiêu xài. Hành vi này là nguy hiểm cho xã hội, với tính chất đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của ngƣời khác. Hành vi đó của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội phạm và đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” - tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 4 Điều 175 của Bộ luật hình sự.

Do đó, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà đối với bị cáo là có cơ sở, không oan sai, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Về ý kiến của ngƣời bào chữa cho rằng, hành vi thuê xe ô tô NISSAN SUNNY biển kiểm soát 25A-023.42, sau đó bị cáo cho anh Vũ Công H mƣợn để sử dụng chƣa đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội. Tuy nhiên, xem xét một cách khách quan, toàn diện thì thấy rằng, bị cáo sau khi thuê đƣợc xe ô tô đã mang xe cầm cố anh U để vay tiền. Khi vay tiền của anh U, bị cáo nói với anh U là xe của đứa em và đứa em đang cần tiền nên mang ra cầm cố vay tiền. Khi bị cáo tiếp tục muốn vay thêm tiền nhƣng anh U không cho, anh U giới thiệu bị cáo với anh Vũ Công H, bị cáo chuyển giao xe ô tô cho anh Vũ Công H để vay 100 triệu đồng (trong đó tiền trừ nợ cho anh U và còn lại bị cáo sử dụng cá nhân) và để anh Vũ Công H tin tƣởng bị cáo nói là xe của đứa em (bị cáo không nói về nguồn gốc xe do bị cáo đi thuê và không đƣợc cầm cố) nên cần bác ý kiến của ngƣời bào chữa về vấn đề này.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo Vƣơng Văn D từ nhỏ đƣợc gia đình nuôi dƣỡng và đƣợc học hành, bản thân chƣa có tiền án tiền sự. Trong quá trình điều tra và xét xử bị cáo đều đã thể hiện sự ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo; nhân thân tốt, chƣa có tiền án tiền sự; bị cáo là ngƣời dân tộc thiểu số sinh sống vùng miền núi còn nhiều khó khăn nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế; số tài sản bị chiếm đoạt (05 xe ô tô) đã đƣợc thu hồi trả lại cho chủ sở hữu nên phần nào giảm bớt tác hại của tội phạm, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo - theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bên cạnh đó, bị cáo phạm tội từ 02 lần trở lên, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo – theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở các quy định của Bộ luật hình sự, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Xét thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành ngƣời có ích cho xã hội và răn đe, phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự:

- Xét thấy hợp đồng thuê xe giữa bị cáo với những bị hại là hợp pháp nhƣng đến hạn trả xe bị cáo không thực hiện theo đúng cam kết nên gây thiệt hại cho các bị hại và trong giai đoạn điều tra chị Nguyễn Thị Thanh Nh có yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng thiệt hại, do đó cần buộc bị cáo phải bồi thƣờng thiệt hại về tài sản cho: Bị hại Nguyễn Thị Thanh Nh là 80 triệu đồng.

- Xét thấy hợp đồng vay tiền giữa bị cáo với những ngƣời có quyền lợi liên quan là vô hiệu (do bị lừa dối) nên cần buộc bị cáo phải hoàn trả cho:

+ Ngƣời có quyền lợi liên quan Chu Mạnh H là 450 triệu đồng;

+ Ngƣời có quyền lợi liên quan Nguyễn Văn H là 250 triệu đồng;

+ Ngƣời có quyền lợi liên quan Lê Thanh Ng là 100 triệu đồng.

Về vật chứng của vụ án (05 chiếc xe ô tô): cơ quan điều tra đã tiến hành thu hồi và tạm giao cho các chủ sở hữu nên tòa cần trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp.

Về án phí hình sự: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội, Hội đồng xét xử cần quyết định bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST và xét thấy bị cáo là lao động tự do, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn và phải đi chấp hành án thời gian dài nên khó có điều kiện thi hành tiền án phí dân sự nên cần miễn án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/- Tuyên bố bị cáo Vƣơng Văn D phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vƣơng Văn D 14 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 24/7/2018.

2/- Về trách nhiệm dân sự:

- Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự và các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thƣờng thiệt hại về tài sản cho bị hại Nguyễn Thị Thanh Nh 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng).

- Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự và các Điều 122, 127, 131, 407 của Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải hoàn trả cho:

+ Ngƣời có quyền lợi liên quan Chu Mạnh H là 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng);

+ Ngƣời có quyền lợi liên quan Nguyễn Văn H là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng);

+ Ngƣời có quyền lợi liên quan Lê Thanh Ng là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).

Áp dụng các Điều 274, 275, 357, 468 của Bộ luật dân sự: Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của bên đƣợc thi hành án, bên phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất 10%/năm tƣơng ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Áp dụng Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự: Trong thời hạn 05 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ngƣời đƣợc thi hành án, ngƣời phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án. Ngƣời có nghĩa vụ thi hành án phải chấp hành việc thi hành án.

3/- Vật chứng của vụ án:

Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho:

- Bị hại Vƣơng Hào Q các xe ô tô: NISSAN SUNNY, biển kiểm soát 25A-023.42; TOYOTA COROLLA ZRE, biển kiểm soát 25A-007.45;

- Bị hại Nguyễn Đình Th xe ô tô TOYOTA INNOVA G, biển kiểm soát 30A-503.80;

- Bị hại Nguyễn Thị Thanh Nh xe ô tô CHEVROLET COLORAD LTZ, biển kiểm soát 25C-028.26;

- Bị hại Ngà Văn H xe ô tô DAEWO GENTRA, biển kiểm soát 25A-022.71.

(Xác nhận việc các bị hại đã nhận đƣợc xe ô tô trong giai đoạn điều tra).

4/- Án phí:

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội: bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST. Miễn án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho bị cáo.

Báo cho bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi liên quan biết đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ