vanban.org

Bản án 09/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 26/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đào Mạnh Q phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 56 – Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Mạnh Q 30 (Ba mươi) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 21 (Hai mươi mốt) tháng tù của bản án Hình sự sơ thẩm số 20/2019/HSST ngày 05/3/2019 của Tòa án nhân dân t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Mạnh Q trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đào Mạnh Q phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN YÊN
TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 09 /2019/HS-ST
Ngày: 26-6-2019

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN – TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đức Tuấn;

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trung Bang;

2. Ông Nguyễn Quang Đạc;

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên - tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Tô Mạnh Cử - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2019 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2019/HSST ngày 14/5/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2019/QĐXXST-HS ngày 12/6/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đào Mạnh Q - Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày xx tháng xx năm 19xx, tại HL, Quảng Ninh;

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ x, khuy, phường HH, thành phố HL, tỉnh Quảng Ninh.

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12;

Con ông Đào Mạnh Kh - sinh năm 19xx và bà Đào Thị L – sinh năm 19xx.

Có vợ là Nguyễn Kiều O - sinh năm 19xx; có 01 con sinh năm 20xx;

Tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 22/5/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/3/2017.

Nhân thân: Ngày 05/3/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị bắt trong vụ án khác ngày 28/12/2018, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

1. anh Đinh Duy C – sinh ngày 22/10/19xx; địa chỉ: Phố HB, thị trấn TY, huyện T, tỉnh Quảng Ninh – Có mặt.

2. anh Đinh Việt H – sinh ngày 26/5/19xx, địa chỉ: Phố QT, thị trấn TY, huyện T, tỉnh Quảng Ninh – Có mặt.

3. anh Nguyễn Quang T – sinh ngày 10/5/19xx; địa chỉ: Phố ĐT2, thị trấn TY, huyện T, tỉnh Quảng Ninh – Vắng mặt.

4. ông Nguyễn Quang K1 – sinh năm 19xx; địa chỉ: Phố ĐT2, thị trấn TY, huyện T, tỉnh Quảng Ninh – Có mặt.

5. ông Lương Ngọc H1 - sinh ngày 06/11/19xx; địa chỉ: Thôn TB1, xã TL, huyện T, tỉnh Quảng Ninh – Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. anh Nguyễn Văn V – sinh ngày 17/7/19xx; địa chỉ: tổ xx, khu NH, phường KS, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Văn V: chị Nguyễn Thị X, sinh ngày 06/8/19xx; địa chỉ: Tổ xx, khu NH, phường KS, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh – Vắng mặt.

2. anh Lương Quang L1 - sinh năm 19xx; địa chỉ: phố LT, thị trấn TY, huyện T, tỉnh Quảng Ninh – Vắng mặt.

3. anh Nguyễn Đức A – sinh ngày 20/8/19xx; địa chỉ: Thôn XN, xã TL, huyện T, tỉnh Quảng Ninh – Vắng mặt.

4. anh Ngô Xuân K2 – sinh ngày 23/01/19xx, địa chỉ: Thôn CL, xã HQ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh – Vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Trần Văn T1 – Có mặt;

- Nguyễn Anh T2, Lê Văn C1, Phạm Anh T3, Phạm Văn A1, Đinh Hải Y, Phạm Thị Mỹ L2, Đỗ Thị H2, Lưu Thu T4, Nguyễn Hữu T5, Phạm Thanh D Nguyễn Huy L3 - Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có ý định trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài, trong các ngày 19, 23 và 24/12/2018, Đào Mạnh Q đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Tiên Yên, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 19/12/2018, Đào Mạnh Q một mình đi bộ từ nhà trọ của anh Trần Văn T1 (tên gọi khác Th) ở gần khu vực gầm cầu Khe Tiên, thuộc phố Thống Nhất, thị trấn Tiên Yên, huyện Tiên Yên đến Trạm điện 110 kilôvôn (KV) ở phố Long Thành, thị trấn Tiên Yên, Quang đi vào nhà điều hành trạm điện, đến phòng kho đồ thì thấy có 02 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, một chiếc sơn màu đen - đỏ, một chiếc sơn màu đen - trắng không có người trông coi, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện. Q quan sát không thấy có ai trông coi nên đã lấy trộm chiếc xe mô tô sơn màu đen - đỏ trước, Q dắt xe qua phòng làm việc ngay cạnh rồi đưa xe ra ngoài qua cửa phụ của cổng chính trạm điện, Q điều khiển xe mô tô trên đến quán game điện tử của anh Nguyễn Đức A ở phố LT, thị trấn TY cầm cố được 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Sau đó Quang tiếp tục quay lại Trạm điện 110 KV ở phố Long Thành, thị trấn Tiên Yên vào phòng kho đồ lấy trộm chiếc xe nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đen - trắng rồi điều khiển xe đi về phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều bán cho Nguyễn Văn V với giá 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

Vụ thứ hai:

Khoảng từ 10 đến13 giờ ngày 23/12/2018, Đào Mạnh Q một mình đi bộ đến khu vực ngã ba cuối thôn Đồng Châu, xã Tiên Lãng, huyện Tiên Yên thấy một chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE ANPHA, sơn màu xanh dựng ở nền đất cạnh một bụi cây chuối không có người trông coi. Quang dùng mũi chiếc kéo mang theo người phá ổ khóa điện chiếc xe mô tô trên rồi điều khiển xe về phòng trọ của anh T1 cất giấu, lúc này T1 không có nhà nên Q đã tháo biển số xe ra và để dưới gầm tủ. Khoảng 02 giờ ngày 24/12/2018, Q điều khiển xe mô tô này đến cầm cố tại quán điện tử của anh Lương Quang L1 ở phố LT, thị trấn TY với giá 3.000.000đ (Ba triệu đồng), số tiền này Q dùng hết vào chơi điện tử.

Vụ thứ ba:

Khoảng 00 giờ ngày 24/12/2018, Đào Mạnh Q một mình đi bộ đến nhà ông Nguyễn Quang K1 ở phố Đông Tiến 2, thị trấn Tiên Yên thấy ở ngoài sân nhà ông Khải dựng một chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE S, màu sơn đỏ để ở sân, đầu xe quay vào phía trong, đuôi xe quay ra cổng. Q quan sát thấy cổng có chốt nhưng không khóa nên mở cổng đi vào trong sân, dắt chiếc xe mô tô trên ra và dùng mũi chiếc kéo mang theo phá ổ khóa điện rồi nổ máy điều khiển xe mô tô trên về nhà trọ của anh T1, Q tháo biển kiểm soát xe mô tô ra và lắp biển kiểm soát xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE ANPHA mà Q lấy trộm vào ngày 23/12/2018 tại thôn Đồng Châu, xã Tiên Lãng, huyện Tiên Yên vào chiếc xe mô tô mà Q vừa lấy trộm rồi đưa chiếc xe này cho Nguyễn Huy L3 đi về Đông Triều. Sau đó Q điều khiển xe mô tô mà Q trộm cắp vào ngày 23/12/2018 tại Đồng Châu chở T1 quay lại ngôi nhà mà mình vừa lấy trộm xe để trộm cắp tiếp 01 đôi loa nhãn hiệu BMB. Sau khi cất giấu xong loa, Q điều khiển xe mô tô đã trộm cắp được ở Đồng Châu đến quán điện tử của anh Lương Quang L1 ở phố LT, thị trấn TY để cầm cố như đã nêu trên. Đến ngày 25/12/2018, Q bắt xe khách về Tràng Bạch, Đông Triều cùng với L3 mang xe mô tô mà Quang trộm cắp vào ngày 24/12/2018 để bán cho Ngô Xuân K2 với giá 2.000.000đ (Hai triệu đồng). (Bút lục 56 - 63).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 05, 06, 07 và 08 ngày 04/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Tiên Yên kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS RC, gắn biển kiểm soát 14K1 - 007.71, màu sơn đen - trắng, xe đã qua sử dụng có giá trị là 9.000.000đ (Chín triệu đồng); Xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS không gắn biển kiểm soát (số máy: 5C63-388760, số khung: C630AY388712), màu sơn đen - đỏ, xe đã qua sử dụng có giá trị là 7.000.000đ (Bẩy triệu đồng); Xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA, màu xanh (số máy HC08E0308769, số khung 08032Y308699), không gắn biển kiểm soát, màu sơn xanh, xe đã qua sử dụng có giá trị là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng); Xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE S (số máy 1537797; số khung 019880), sơn màu đỏ - đen - xám, không gắn biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng có giá trị 4.000.000đ (Bốn triệu đồng); 01 đôi loa nhãn hiệu BMB màu sơn đen đã qua sử dụng có giá trị là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). (Bút lục số 152 - 159).

Tại cơ quan điều tra Đào Mạnh Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, Q khai đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản một mình, không có ai biết và tham gia cùng; chỉ có vụ trộm cắp 01 đôi loa nhãn hiệu BMB vào ngày 24/12/2018 có T1 cùng tham gia, nhưng T1 không thừa nhận đã cùng Q đi trộm cắp, T1 chỉ khai nhận được Q cho 1 chiếc loa BMB để nghe nhạc. Việc Q tháo biển kiểm soát xe mô tô trộm cắp ngày 24/12/2018 để gắn vào xe mô tô trộm cắp ngày 23/4/2018 và giao xe mô tô trộm cắp ngày 24/12/2018 cho L3 thì T1 không biết; Nguyễn Huy L3 khai đã điều khiển chiếc xe mô tô Q đưa để đi về Đông Triều và đã cùng Q đi bán, nhưng L3 không biết nguồn gốc xe là do Q phạm tội mà có. Đối với những người mua và nhận cầm cố tài sản xe mô tô của Q đều có lời khai không biết các tài sản đó do Q phạm tội mà có (Bút lục 68 - 71).

Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKSTY ngày 10/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Đào Mạnh Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Đào Mạnh Q khai bị cáo đến Tiên Yên từ ngày 18/12/2019, mục đích để chơi với bạn tên là V1, bị cáo nghỉ trọ nhờ tại phòng trọ của anh Trần Văn T1 (tên gọi khác là Th) là bạn xã hội tại số nhà xx, phố TN, thị trấn TY.

Khoảng 01 giờ ngày 19/12/2018, Q đi bộ đến Trạm điện 110KV ở phố Long Thành, thị trấn Tiên Yên, thấy vắng người, Q đi vào, đến phòng kho thấy có 02 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, một chiếc sơn màu đen - đỏ, một chiếc sơn màu đen - trắng, không có người trông coi, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện. Q dắt chiếc xe mô tô màu đen - đỏ ra ngoài qua cửa phụ của cổng chính trạm điện, sau đó Q nổ máy điều khiển xe đến quán game điện tử của anh Nguyễn Đức A ở phố LT, thị trấn TY cầm cố được 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Sau đó Q đi bộ quay lại trạm điện, vào phòng kho dắt tiếp chiếc xe màu đen - trắng ra ngoài theo lối cũ như lần trước rồi điều khiển xe đi về phường M, thị xã ĐT, đến chiều ngày 19/12/2018 Q bán cho Nguyễn Văn V với giá 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

Tiếp đó, khoảng từ 10 đến 13 giờ ngày 23/12/2018, Q đi bộ đến khu vực ngã ba cuối thôn Đồng Châu, xã Tiên Lãng, huyện Tiên Yên, thấy một chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE ANPHA, sơn màu xanh dựng ở nền đất cạnh một bụi cây chuối không có người trông coi. Q dùng mũi chiếc kéo mang theo phá ổ khóa điện xe mô tô rồi điều khiển xe về phòng trọ của anh T1 cất giấu, lúc này T1 không có nhà, Q tháo biển số xe ra và để dưới gầm tủ, đến khoảng 8 đến 9 giờ tối cùng ngày bị cáo đem xe ra quán điện tử của anh L1 cầm cố để vay 3.000.000đ.

Đến khoảng 23 giờ 30 phút ngày 24/12/2018, Quang đi bộ đến nhà ông Nguyễn Quang K1 ở phố ĐT2, thị trấn TY, thấy ở ngoài sân nhà ông K1 dựng một chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE S, màu sơn đỏ đen để ở sân, Quang thấy cổng có chốt nhưng không khóa nên mở cổng đi vào sân dắt chiếc xe mô tô ra và dùng mũi chiếc kéo mang theo phá ổ khóa điện, nổ máy điều khiển xe mô tô về nhà trọ của Trần Văn T1, Q tháo biển kiểm soát xe mô tô ra và lắp biển kiểm soát xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE ANPHA mà Q lấy trộm vào trưa ngày 23/12/2018 tại thôn Đồng Châu vào chiếc xe mô tô mà Q vừa lấy trộm và đưa chiếc xe HONDA WAVE S cho Nguyễn Huy L3 đi về Đông Triều. Sau đó T1 điều khiển xe mô tô HONDA WAVE ANPHA của L3 chở Q quay lại nhà ông Nguyễn Quang K1 để trộm cắp tiếp, tại đó, Q vào nhà ông K1, còn T1 canh gác. Q bê loa ra đưa cho T1 đón bên ngoài, sau đó Q còn vào nhà lấy 01 chiếc ví để trên ghế và lục tủ ở phòng bên cạnh lấy được một số giấy tờ khác. Sau khi lấy được tài sản, Q chặn hòn gạch ở cửa và chăng dây ngang cổng để đề phòng bị truy đuổi. Sau đó Q và T1 quay lại phòng trọ của T1 cất giấu loa.

Đến ngày 25/12/2018, Q bắt xe khách về Tràng Bạch, Đông Triều cùng với L3 mang xe mô tô HONDA WAVE S bán cho anh Ngô Xuân K2 với giá 2.000.000đ (Hai triệu đồng).

Những người bị hại là anh Đinh Duy C, anh Đinh Việt H, ông Nguyễn Quang K1, ông Lương Ngọc H1 có mặt tại phiên tòa có lời khai về việc bị mất trộm tài sản, về thời gian, địa điểm, đặc điểm tài sản tương tự như lời khai trong quá trình điều tra, thừa nhận đã được nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại và không có ý kiến gì về phần hình phạt đối với bị cáo. Riêng ông Nguyễn Quang K1 còn khai báo thêm về việc gia đình ông còn bị mất 01 chiếc áo khoác đã cũ, có giá trị không lớn và ông cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường chiếc áo này.

Quá trình điều tra, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn V khai (BL 99-102): Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 19/12/2018 đã mua của Q chiếc xe mô tô YAMAHA SIRIUS biển kiểm soát 14K1-007.71 với giá 10.000.000đ, nhưng Q nói chưa có giấy tờ xe nên đưa trước 4.500.000đ, khi nào Q mang giấy tờ xe đến thì sẽ đưa nốt số tiền còn lại, nhưng sau đó không thấy Q mang giấy tờ xe lại để nhận nốt tiền nên anh V đã đưa xe cho chị gái là Nguyễn Thị X sử dụng, anh V không biết xe mua của Q là do phạm tội mà có. Anh ủy quyền cho chị Nguyễn Thị X thay mặt giải quyết việc bồi thường số tiền 4.500.000đ đã mua xe của Q.

Anh Lương Quang L1 (BL 111-114) khai đã nhận cầm cố chiếc xe mô tô HONDA WAVE ANPHA không gắn biển kiểm soát và đưa cho Q vay 3.000.000đ; Anh Nguyễn Đức A (BL 120-121) khai đã nhận cầm cố chiếc xe mô tô YAMAHA SIRIUS màu đen đỏ và đưa cho Q vay 5.000.000đ; Anh Ngô Xuân K2 (BL 122-123) khai đã đưa cho Q vay 2.000.000đ và giữ xe HONDA WAVE S lại làm tin. Các anh không biết những chiếc xe mô tô Q đem đến cầm cố là tài sản do trộm cắp được mà có. Những chiếc xe này đã bị cơ quan điều tra thu giữ. Các anh không yêu cầu Q phải bồi thường số tiền đã vay.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh tại phiên tòa luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Cáo trạng đã nêu; Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 56 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù, tổng hợp với hình phạt 21 tháng tù của bản án số 20/2019/HSST ngày 05/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là từ 51 đến 57 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 28/12/2018; áp dụng Điều 127; Điều 131 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải hoàn trả lại cho anh Nguyễn Văn V số tiền 4.500.000đ; Truy thu đối với bị cáo số tiền 10.250.000đ là tiền do phạm tội mà có; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo luật định.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin lỗi những người bị hại, rất ân hận về hành vi của mình và xin hứa không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Yên; Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đều đã thực hiện hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo Đào Mạnh Q trong quá trình điều tra (BL 54-73; 340-344) và lời khai tại phiên tòa, thấy cơ bản phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản xác định hiện trường, bản ảnh hiện trường, sơ đồ hiện trường; bản ảnh vật chứng (BL 173-226); Biên bản khám xét (BL 142); Các Bản kết luận định giá tài sản số 05; 06; 07 và 08/KLĐG ngày 04/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Tiên Yên; phù hợp với lời khai của những người làm chứng, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ, thấy có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 19/12/2018 tại Trạm điện 110 KV ở phố Long Thành, thị trấn Tiên Yên, ngày 23/12/2018 tại thôn Đồng Châu, xã Tiên Lãng và ngày 24/12/2018 tại phố Đông Tiến 2, thị trấn Tiên Yên huyện Tiên Yên, Đào Mạnh Q đã lén lút trộm cắp 01(Một) xe môtô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS RC biển kiểm soát 14K1-007.71của anh Đinh Duy C trị giá 9.000.000đ (Chín triệu đồng); 01(Một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS biển kiểm soát 14T3-2769 của anh Đinh Việt H có giá trị 7.000.000đ (Bảy triệu đồng); 01(Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE ANPHA biển kiểm soát 14N1-073.38 của ông Lương Ngọc H1 trị giá 4.000.000đ (Bốn triệu đồng); 01(Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE S biển kiểm soát 29Z6-9026 trị giá 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) và 01 đôi loa nhãn hiệu BMB trị giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) của ông Nguyễn Quang K1; 01 chiếc ví bên trong có một số giấy tờ của anh Nguyễn Quang T và một số giấy tờ khác của anh T để trong nhà ông K1. Tổng giá trị tài sản Đào Mạnh Q đã chiếm đoạt là 24.500.000đ (Hai mươi bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo Đào Mạnh Q là nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng chủ sở hữu sơ hở trong quản lý tài sản, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo Đào Mạnh Q đã phạm tội "Trộm cắp tài sản" thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 - Bộ luật hình sự, có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm như bản Cáo trạng số 08/CT-VKSTY ngày 10/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét tình tiết giảm nhẹ, thấy rằng: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có thành tích trong thời gian tham gia quân đội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tình tiết tăng nặng, thấy rằng: Bị cáo đã bị kết án, chưa xóa án tích, nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng đạo đức, giáo dục bản thân, mà vẫn nhiều lần trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền ăn tiêu, chứng tỏ ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo rất kém. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo phạm tội có dự mưu, có chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội, chỉ trong một thời gian ngắn, bị cáo đã liên tiếp thực hiện 04 lần trộm cắp 04 chiếc xe mô tô và 01 lần trộm cắp loa và một số giấy tờ khác. Do đó phải xử lý thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi cộng đồng một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hành vi bị cáo gây ra cho xã hội, để răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét bị cáo không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Bị cáo Đào Mạnh Q đang chấp hành hình phạt 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 28/12/2018 về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án Hình sự sơ thẩm số 20/2019/HSST ngày 05/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, nay lại bị xét xử về tội phạm trước khi có bản án này. Do đó cần được tổng hợp hình phạt đối với bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Về bồi thường thiệt hại:

Số tài sản là 04 xe mô tô bị trộm cắp, cơ quan điều tra đã thu hồi trả lại cho người bị hại là anh Đinh Duy C, anh Đinh Việt H, ông Nguyễn Quang K1, ông Lương Ngọc H1; đối với 02 chiếc loa bị trộm cắp, cơ quan điều tra chỉ thu hồi trả lại cho ông K1 01 chiếc; 01(Một) giấy CMND số 151700986 mang tên Đỗ Thị H2; 01(Một) sổ bảo hiểm xã hội mang tên Đỗ Thị H2; 01(Một) giấy vay nợ mang tên Đỗ Thị H2 cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Quang T.

Đối với xe mô tô của ông Nguyễn Quang K1 và xe mô tô của ông Lương Ngọc H1 bị hỏng khóa điện; 01 chiếc loa của ông K1 chưa hồi được; 01 chiếc ví của anh Nguyễn Quang T, bên trong có: 01 giấy CMND và 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Quang T, 01 giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 14M1 - 036.17 mang tên Tô Thu H3 bị cáo đã đánh rơi mất, không thu hồi được, ông K1, ông H1 và anh T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đề cập giải quyết.

Đối với những người đã mua và nhận cầm cố tài sản là xe mô tô trong vụ án này, sau khi biết tài sản đó có được do phạm tội mà có đã tự nguyện nộp lại xe cho cơ quan điều tra để trả lại cho người bị hại và không yêu cầu Q phải bồi thường số tiền đã mua và nhận cầm cố xe của Q nên không đề cập giải quyết.

Riêng đối với chiếc xe mô tô YAMAHA SIRIUS biển kiểm soát 14K1-007.71 Q bán cho anh Nguyễn Văn V với giá 10.000.000đ, anh đã trả trước 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) khi nào đem giấy tờ đến thì trả nốt số tiền còn lại. Như vậy Q đã gian dối để bán cho anh V chiếc xe nêu trên. Giao dịch này là vô hiệu, anh V đã nộp lại xe cho cơ quan Điều tra để trả lại cho người bị hại, nên cần buộc bị cáo phải hoàn trả lại cho anh V số tiền 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

Đối với số tiền có được do bán và cầm cố xe máy, gồm xe YAMAHA SIRIUS màu đen - đỏ bán cho anh Lê Đức A được 5.000.000đ; xe HONDA WAVE ANPHA cầm cố cho anh Lương Quang L1 được 3.000.000đ; xe HONDA WAVE S bán cho anh Ngô Xuân K2 giá 2.000.000đ, anh Lê Đức A, Lương Quang L1, Ngô Xuân K2 không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả. Nhưng xét thấy đây là số tiền do phạm tội mà có, cần buộc bị cáo phải nộp lại để sung ngân sách nhà nước; Đối với 01 chiếc loa BMB trị giá 250.000đ của ông Nguyễn Quang K1 chưa truy tìm được, ông K không yêu cầu bị cáo bồi thường, nhưng xét thấy cần buộc bị cáo phải nộp lại trị giá chiếc loa này để sung ngân sách nhà nước, tổng số tiền này là 5.000.000đ + 3.000.000đ + 2.000.000đ + 250.000đ = 10.250.000đ (Mười triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) túi vải màu vàng có kích thước (40x45)cm, trên túi có in dòng chữ ROYAL; 02 (hai) chiếc tô vít cán màu đỏ, dài 23cm; 01 (một) kìm kim loại tay cầm bằng nhựa màu đỏ; 04 (bốn) tròng chữ T; 08 (tám) chiếc Cờ lê; 05 (Năm) lục giác hình chữ L; 01 (một) tô vít thử điện (tất cả đều đã qua sử dựng). Đây là những công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, xét thấy có giá trị không lớn, nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) chiếc kéo kim loại mũi nhọn dài khoảng 20cm, cán bọc nhựa màu đỏ bị cáo dùng để phá ổ khóa điện, Q khai đã bị rơi mất nên không đề cập xử lý.

Đối với Trần Văn T1 (tức Th) và Nguyễn Huy L3 trong quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa không đủ căn cứ xác định đã cùng Q thực hiện các vụ trộm cắp xe mô tô; không đủ căn cứ xác định L3 có hứa hẹn hoặc biết chiếc xe mô tô mà Q đưa để đi về Đông Triều và cùng Q đi tiêu thụ là tài sản do phạm tội mà có, nên không đề cập xử lý.

Đối với việc bị cáo Q khai đã cùng T1 trộm cắp 01 đôi loa nhãn hiệu BMB và một số giấy tờ vào ngày 24/12/2018 tại nhà ông Nguyễn Quang K1 và việc Q để lại số đồ vật bị tạm giữ tại phòng trọ của T1, quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa không đủ căn cứ xác định T1 tham gia cùng Q trộm cắp ngày 24/12/2018 và cũng không có đủ căn cứ xác định T1 biết số đồ vật đó do Q phạm tội mà có nên không đủ cơ sở xử lý đối với T1.

Đối với những người mua và nhận cầm cố tài sản của Q họ đều không biết các tài sản đó do Q phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.

Đối với nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa về một số tình tiết như: Khoảng 8 đến 9 giờ tối ngày 23/12/2018, bị cáo đem xe mô tô trộm cắp được ở Đồng Châu để cầm cố cho anh L1, sau đó đến khoảng 23 giờ 30 phút ngày 24/12/2018, sau khi trộm cắp được chiếc xe mô tô Honda Wave S, bị cáo đưa chiếc xe này cho Nguyễn Huy L3 đi về Đông Triều và tình tiết bị cáo khai đã điều khiển xe mô tô của L3 chở T1 đến nhà ông K1 để trộm cắp tiếp, nhưng sau đó, bị cáo thay đổi lời khai, cho rằng chỉ một mình bị cáo đi xe mô tô của L1 quay lại nhà ông K1 để trộm cắp. Những lời khai này của bị cáo không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa nên không có căn cứ để chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Đào Mạnh Q phạm tội "Trộm cắp tài sản".

- Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 56 – Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đào Mạnh Q 30 (Ba mươi) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 21 (Hai mươi mốt) tháng tù của bản án Hình sự sơ thẩm số 20/2019/HSST ngày 05/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Buộc bị cáo Đào Mạnh Quang phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 51 (Năm mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ 28/12/2018.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 127; Điều 131 Bộ luật Dân sự.

Buộc Đào Mạnh Q phải hoàn trả anh Nguyễn Văn V số tiền 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án chậm trả tiền thì người phải thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại điều 357 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 10.250.000đ (Mười triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) do phạm tội mà có để sung vào ngân sách nhà nước.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi vải màu vàng có kích thước (40x45)cm, trên túi có in dòng chữ ROYAL; 02 (hai) chiếc tô vít cán màu đỏ, dài 23cm; 01 (một) kìm kim loại tay cầm bằng nhựa màu đỏ; 04 (bốn) tròng chữ T; 08 (tám) chiếc Cờ lê; 05 (Năm) lục giác hình chữ L; 01 (một) tô vít thử điện (tất cả đều đã qua sử dụng).

Tình trạng số vật chứng nêu trên thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 12/CCTHADS-BB ngày 14/5/2019 giữa Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Đào Mạnh Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo và những người bị hại Đinh Duy C, Đinh Việt H, Nguyễn Quang K1, Lương Ngọc H1 có mặt tại phiên tòa, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại Nguyễn Quang T và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn V, Lương Quang L1, Nguyễn Đức A, Ngô Xuân K2 vắng mặt tại phiên tòa, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ