vanban.org

Bản án 09/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 25/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Kim H phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt: Xử phạt Dương Kim H 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/01/2019. Về xử lý vật chứng: Trả cho chị Triệu Mùi P Số tiền 6.767.000 đồng (sáu triệu bẩy trăm sáu mươi bẩy nghìn) tiền Việt Nam hiện đang được lưu trữ, bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lạng S… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Dương Kim H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Kim H phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2019/HS-ST
Ngày 25 - 4 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Cao Sơn

Bà Chu Mai Hương

-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thúy Huyền- Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Lương Minh Hợp - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2019/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo:

Dương Kim H (tên gọi khác: Dương Trầm H), sinh ngày 13 tháng 03 năm 1991, tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã S, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 1/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Trùng C (đã chết) và bà Triệu Thị Mùi N; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không có; tiền án: Có 01 tiền án: Tại Bản án số 17/2011/HSST ngày 19/7/2011 Dương Kim H bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 05 năm tù về tội Cố ý gây thương tích, 01 năm tù về tội cưỡng đoạt tài sản, tổng hợp chung hình phạt là 06 năm tù bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù; nhân thân: Chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/01/2019 đến ngày 26/01/2019 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.

- Bị hại: Triệu Mùi P, (tên gọi khác: Triệu Thị P), sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Triệu Tiến C, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

2. Bà Triệu Thị Mùi N; địa chỉ: Thôn N, xã S, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 22/01/2019 tại nhà của chị Triệu A M, địa chỉ Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Dương Kim H đã có hành vi Trộm cắp tài sản của chị Triệu Mùi P là em gái của Triệu A M (ở cùng nhà với A M) 9.000.000đ (chín triệu đồng) tiền Việt Nam và 16 tờ tiền mệnh giá 100 nhân dân tệ (tiền Trung Quốc). Tại thông báo tỷ giá mua bán ngoại tệ của ngày 22/01/2019 được Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chi nhánh tỉnh Lạng Sơn cung cấp tỷ giá mua, bán 01 đồng Trung Quốc quy đổi = 3.411 đồng Việt Nam, 1.600 nhân dân tệ x 3.411 đồng tiền = 5.457.000 đồng (năm triệu bốn trăm năm mươi bẩy nghìn đồng) tiền Việt Nam. Tổng số tiền Dương Kim H trộm cắp được của chị Triệu Mùi P là 14.457.000 đồng (mười bốn triệu bốn trăm năm mươi bẩy nghìn đồng).

Cáo trạng số: 10/CT-VKSLB ngày 04/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Dương Kim H về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố như đã nói trên và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Kim H phạm tội trộm cắp tài sản: Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38; Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 12 (mười hai) đến 15 (mười năm) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 trả lại cho chị Triệu Mùi P số tiền 6.767.000 đồng (Sáu triệu bẩy trăm sáu mươi bẩy nghìn đồng); Về trách nhiệm dân sự: Mẹ của bị cáo là bà Triệu Thị Mùi N đã bồi thường cho bị hại 7000.000 đồng (bẩy triệu đồng), tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo Dương Kim H và bị hại Triệu Mùi P đã tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc bồi thường số tiền còn thiếu là 690.000 đồng đề nghị Hội đồng xét xử công nhận.

Tại phiên tòa Dương Kim H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân cụ thể:

Khoảng 11 giờ 15 phút, ngày 22/01/2019 Dương Kim H cùng anh rể là Triệu Tiến C điều khiển xe mô tô BKS: 12 T1 - 7301 đi đến nhà Triệu A M. Khi đi đến nhà Triệu A M thì Triệu Tiến C đi lên nhà chính của Triệu A M ngủ, còn Dương Kim H đi xuống nhà bếp gặp Triệu Mùi P là em ruột của Triệu A M, Dương Kim H ngồi nói chuyện và uống nước cùng với Triệu Mùi P được khoảng khoảng 10 phút thì Triệu Mùi P đi làm công việc gia đình, còn Dương Kim H đi từ gian nhà bếp đi lên gian nhà chính thấy anh Triệu Tiến C đã ngủ say, trong nhà chính không còn ai nên Dương Kim H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Dương Kim H quan sát thấy trên giường góc phải cửa nhà chính có một chiếc túi da mầu đen (dạng ví) không cài khóa, Dương Kim H tiến lại gần quan sát thấy bên trong túi có các loại tiền khác nhau. Dương Kim H dùng tay phải móc hết tiền trong túi ra và cất vào túi quần rồi gọi Triệu Tiến C dậy để mượn chìa khóa xe mô tô. Sau đó Dương Kim H đi ra ngoài đếm số tiền trộm cắp được gồm 9.000.000đ (chín triệu đồng) tiền Việt Nam và 16 tờ tiền mệnh giá 100 nhân dân tệ (tiền Trung Quốc). Kiểm tra số tiền vừa trộm cắp được xong, Dương Kim H điều khiển xe mô tô đi ra thị trấn B, tỉnh Lạng Sơn đến một tiệm vàng (không rõ tên và địa chỉ) đổi 16 tờ tiền mệnh giá 100 nhân dân tệ được 5.000.000đ (năm triệu đồng) tiền Việt Nam, đến khi bị Cơ quan cảnh sát điều tra

- Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn phát hiện và bắt giữ, thu giữ trên người số tiền là 6.767.000 đồng (sáu triệu bẩy trăm sáu mươi bẩy nghìn đồng), số tiền còn lại Dương Kim H chi tiêu vào việc cá nhân; sau khi bị bắt bị cáo đã nhờ cán bộ điều tra Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn gọi điện cho mẹ là bà Triệu Thị Mùi N bồi thường cho bị hại 7000.000 đồng (bẩy triệu đồng), số tiền còn là là 690.000 đồng (sáu chín mươi nghìn đồng) bị cáo sẽ tiếp tục bồi thường cho bị hại.

Bị hại chị Triệu Mùi P trình bày, lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn đúng sự thật, số tiền mà Dương Kim H lén lút chiếm đoạt của chị là tổng cộng là 14.457.000 đồng, ngày 18/02/2019, Bà Triệu Thị Mùi N bồi thường cho chị 7.000.000 đồng (bẩy triệu đồng), 6.767.000 đồng hiện đang lưu giữ tại Chi Cục Thi hành án dân sự chị đề nghị Hội Đồng xét xử trả lại cho chị, số tiền còn lại là 690.000 đồng tại phiên tòa bị cáo hứa sẽ bồi thường, chị Triệu Mùi P hoàn toàn đồng ý.

Tại phần tranh luận bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án do đó có căn cứ xác định:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 22/01/2019 tại nhà của Triệu A M, địa chỉ Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Dương Kim H đã có hành vi Trộm cắp tài sản của Triệu Mùi P là em gái của Triệu A M 9.000.000đ (chín triệu đồng) tiền Việt Nam và 16 tờ tiền mệnh giá 100 nhân dân tệ (tiền Trung Quốc) quy đổi thời giá hiện tại 1.600 nhân dân tệ là 5.457.000đ. Tổng số tiền Dương Kim H trộm cắp được của Triệu Mùi P là 14.457.000đ (mười bốn triệu bốn trăm năm mươi bẩy nghìn đồng).

Như vậy đủ cơ sở kết luận Dương Kim H phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tính chất, hậu quả mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo là người có thể chất phát triển bình thường, có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, với mục đích nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Do vậy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo để trừng trị bị cáo và tuyên truyền, giáo dục, răn đe những ai có ý định thực hiện hành vi tương tự. Nhưng ngoài việc đánh giá vị trí, vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nêu trên thì còn cần phải xem xét những yếu tố liên quan đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các yếu tố khác có liên quan, nhằm cá thể hoá trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã vi từng phạm pháp luật cụ thể: Tại Bản án số 17/2011/HSST ngày 19/7/2011 Dương Kim H bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 05 năm tù về tội Cố ý gây thương tích, đến nay bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính nhưng chưa được xóa án tích, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân lại tiếp tục phạm tội như vậy bị cáo là người có nhân thân xấu; bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đó là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; người phạm tội là dân tộc thiểu số sinh, sống tại vùng kinh tế đặc biệc khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay thể hiện bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Số tiền 6.767.000 đồng (sáu triệu bẩy trăm sáu mươi bẩy nghìn) tiền Việt Nam hiện đang được lưu trữ, bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lạng Sơn là số tiền hợp pháp của chị Triệu Mùi P là bị hại trong vụ án do vậy cần trả cho người bị hại.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Mẹ của bị cáo là bà Triệu Thị Mùi N bồi thường cho chị Triệu Mùi P 7.000.000 đồng, số tiền còn lại là 690.000 đồng tại phiên tòa bị cáo và bị hại chị Triệu Mùi P đã tự thỏa thuận số tiền trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện và không trái với đạo đức xã hội, không thuộc trường hợp pháp luật cấm do vậy hội đồng xét xử công nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo khoản 2 Điều 135, khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23; khoản 8, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38; Bộ luật Hình sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2, 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23, khoản 8 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Kim H phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

2. Về hình phạt: Xử phạt Dương Kim H 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/01/2019.

3. Về xử lý vật chứng: Trả cho chị Triệu Mùi P Số tiền 6.767.000 đồng (sáu triệu bẩy trăm sáu mươi bẩy nghìn) tiền Việt Nam hiện đang được lưu trữ, bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lạng Sơn (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/4/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự).

4. Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Dương Kim H và bị hại Triệu Mùi P về việc bồi thường số tiền 690.000 đồng (sáu trăm chín mươi nghìn đồng). Khi bản án có hiệu lực pháp luật thi hành nếu người phải thi hành chưa thanh toán được số tiền trên thì còn phải chịu lãi xuất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự 2015.

5. Về án phí: Bị cáo Dương Kim H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự có giá ngạch để sung ngân sách Nhà nước.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ