- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thành Long "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo PTL (Ngọc, Ba Ngọc, Đoàn Văn Ngọc) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 56 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 09/2019/HS-ST Ngày : 04 - 6 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lý Khắc Chung
Ông Nguyễn Hoàng Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Dương Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CP;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CP tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Công Ninh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CP xét xử sơ thẩm công Khi vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2019/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:
PTL (còn có tên gọi khác: Ngọc, Ba Ngọc, Đoàn Văn Ngọc), sinh năm 1950. Nơi cư trú: Số 36/27B Nguyễn Văn Cừ, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Nơi ở trước khi bị bắt: Khu vực Thới An 2, phường THA, quận TN, thành phố Cần Thơ. Chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Út (Đoàn Văn Út), sinh năm 1924 (chết) và bà Trần Thị Thái, sinh năm 1924 (chết); cha nuôi: Phạm Thành Lũy; mẹ nuôi: Trần Thị Thẩm. Có vợ là Trần Thị Minh, sinh năm 1958, con là Phạm Thị Thùy Trang, sinh năm 1988; tiền án: chưa; tiền sự: chưa; nhân thân: Từ nhỏ sống chung với gia đình, học đến lớp 02 nghỉ học. Ngày 14/01/1986, bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về hành vi đánh bạc; ngày 01/7/1990, bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 14 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 30/4/1994, Lg trốn khỏi nơi giam và thực hiện hành vi đánh bạc. Ngày 27/9/1996, Tòa án nhân dân thành phố Lg Xuyên xử phạt 30 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam” và 16 tháng tù về tội “Đánh bạc”, tổng hợp hình phạt của bản án chưa chấp hành xong là 10 năm 02 tháng 01 ngày. Hình phạt chung Lg phải chấp hành là 14 năm 01 ngày tù, chấp hành án tại trại giam Định Thành. Ngày 26/01/2006 Lg chấp hành xong hình phạt. Hiện bị cáo Lg đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ theo Lệnh tạm giam số 22 ngày 26/9/2018 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Thạnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Ông NQT, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Ấp Lg Hòa, xã OLV, huyện CP, tỉnh An Giang, (vắng mặt).
+ Bà HMK, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Ấp Lg Hòa, xã OLV,huyện CP, tỉnh An Giang, (Có mặt).
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
+ Chị NTK, sinh năm 1997, địa chỉ: Ấp Lg Hòa, xã OLV, huyện CP, tỉnh An Giang. (Có mặt)
+ Anh THN, sinh năm 1997, địa chỉ: Ấp Bình Trung, xã BM, huyện CP, tỉnh An giang. (Vắng mặt)
+ Anh VMT, sinh năm 1999, địa chỉ: Ấp 3, xã HM, huyện PH, tỉnh Hậu Giang. (Vắng mặt)
+ Chị TTC, sinh năm 1995, địa chỉ: Ấp Cần Thuận, xã CĐ, huyện CT, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
+ Anh VTH, sinh năm 2000, địa chỉ: Ấp 3, xã HM, huyện PH, tỉnh Hậu Giang. (Vắng mặt)
+ Chị ĐTN, sinh năm 1995, địa chỉ: Khu vực Thới An 2, phường THA, quận TN, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 19/6/2016, PTL rủ VMĐ đi tìm tài sản để trộm, Lg điều khiển xe mô tô Wave màu xanh của Lg chở Đ đi cặp các tuyến kênh trên địa bàn huyện CP, tỉnh An Giang. Trên đường đi Lg và Đ phát hiện cửa hàng vật tư nông nghiệp Quốc Trung thuộc ấp Lg Hòa, xã OLV, huyện CP, tỉnh An Giang nên cả hai bàn bạc thống nhất lấy trộm thuốc bảo vệ thực vật tại cửa hàng Quốc Trung.
Khoảng 00 giờ ngày 22/6/2016, Đ điều khiển võ lãi đến đậu cặp bờ kênh phía trước cửa hàng vật tư nông nghiệp Quốc Trung, rồi dùng thang đột nhập vào kho, Đ trèo lên thang dùng khóa số 8 mở vít mái tole và dùng kéo cắt một lỗ của mái tole, Lg tiếp tục lấy cây thang dài 3,5m chuyền cho Đ để Đ bắc xuống vào trong kho. Khi vào trong kho Lg và Đ lấy thuốc bảo vệ thực vật các loại gói (thẻ), bịch, chai và 02 con mắt camera để vào 05 cái bao chạy về. Trên đường đi, Lg điện thoại cho Linh (chưa rõ nhân thân, lai lịch và địa chỉ cụ thể) nói vừa lấy trộm được thuốc bảo vệ thực vật và kêu Linh đến khu vực cầu Bò Ót, huyện Thốt Nốt để mua thuốc, cả hai đã bán được cho Linh với giá 10.000.000đồng. Lg và Đ chia nhau mỗi người 5.000.000đồng. Ngày 02/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện CP, khởi tố đối với PTL. Ngoài ra, Ngày 26/9/2018, PTL còn bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ khởi tố bị can đối với PTL về tội Trộm cắp tài sản và tạm giam từ ngày 18/9/2018 cho đến nay.
Tang vật thu giữ gồm: Một cây thang tre gỗ, chiều dài 4,5m, đã qua sử dụng; Một cây thang tre gỗ, chiều dài 3,5m, đã qua sử dụng; Một USB, dung lượng 8GB, vỏ nhựa màu đen (có chép dữ liệu video ghi lại hình ảnh đối tượng đột nhập vào cửa hàng vật tư nông nghiệp Quốc Trung trộm cắp tài sản ngày 22/6/2016), đã được niêm phong, có chữ ký của NQT.
* Căn cứ Biên bản định giá tài sản số 38 ngày 23/6/2016 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện CP, tỉnh An Giang kết luận: Tổng giá trị tài sản trong vụ trộm cắp tài sản (gồm 28 loại thuốc bảo vệ thực vật trị giá 59.026.000 đồng, hai con mắt camera), xảy ra ngày 22/6/2016 tại ấp Lg Hòa, xã OLV, huyện CP, tỉnh An Giang là 61.026.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 09/CT-VKS-CP ngày 17 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo PTL về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo PTL Khi nhận như sau: Trong quá trình điều tra, truy tố không bị các cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, Khi nhận hành vi phạm tôi là do bị cáo tự nguyện Khi.
Lời Khi trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lg đều Khi nhận toàn bộ hành vi phạm tội trộm cắp tài sản đã thực hiện tại cửa hàng vật tư nông nghiệp Quốc Trung. Cụ thể, bị cáo Lg Khi như sau: Bị cáo Lg và Đ bàn bạc cùng nhau đi trộm tài sản nên cả hai dùng xe mô tô của bị cáo Lg chạy dọc theo các tuyến đường trên địa bàn các xã của huyện CP tìm tài sản trộm và phát hiện cửa hàng vật tư nông nghiệp Quốc Trung có các mặt hàng là thuộc bảo vệ thực vật, đêm tối không người trông giữ kho nên bị cáo thực hiện hành vi trộm. Sau khi chọn cửa hàng Quốc Trung, các bị cáo tìm mua thang tre, khóa 8, bao đựng thuốc...phục vụ cho việc trộm. Đến khuya ngày 22/6/2016, bị cáo Lg và Đ điều khiển võ lãi đậu dưới mé sông trước cửa hàng Quốc Trung, bị cáo Lg dùng thang tre trèo lên mái nhà kho, dùng khóa 8 mở mái tole, dùng kéo cắt thiếc đột nhập vào kho, bị cáo Lg và Đ đã lấy nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật để vào 05 bao và mang về và mang tài sản trộm được bán cho Linh (không rõ họ tên, địa chỉ) được 10.000.000 đồng. Bị cáo Lg và Đ chia nhau tiêu xài hết.
* Lời Khi của các bị cáo tại phiên tòa còn phù hợp với các chứng cứ sau:
- Lời Khi người bị hại NQT, HMK trình bày: Ông, bà là chủ cửa hàng vật tư nông nghiệp Quốc Trung. Vào sáng ngày 22/6/2016, ông, bà phát hiện cửa hàng vật tư nông nghiệp của mình bị mất trộm 28 loại thuốc bảo vệ thực vật và 02 camera chống trộm. Cụ thể: 1. Comcat thẻ công ty lúa vàng 500 thẻ; 2. Atonie 200 thẻ, 3. DS 80 100 thẻ; 4. Chet rầy 305 thẻ; 5. Tacumi 200 thẻ; 6. Mat 100 chai; 7. Nuta 50 chai; 8. Hep 12 chai; 9. Pin 100g 50 thẻ; 10. Pin 25g 50 thẻ; 11. Total 80 thẻ; 12. Lakaroto 45 thẻ; 13. Tilsuper 10 chai; 14. Filia 3 chai; 15. Amittalop 25 chai; 16. Inelosuper 40 chai; 17. Prevathon 150 thẻ; 18. Stanơ 80 thẻ; 19. M8 20 thẻ nhỏ; 20. M8 8 thẻ lớn; 21. Alite 10 thẻ; 22. Rivooty 10 chai; 23. Ridomingon 5 kg; 24. Ridonungon 10 thẻ; 25. Antracol 35 thẻ; 26. Antracol 5 kg; 27. Nativo 50 thẻ; 28. Nativo 10 thẻ lớn; 29. 02 con mắt camera. Sau này ông, bà mới biết là do Lg trộm. Ông, bà yêu cầu người lấy trộm bồi thường cho ông bà số tiền 61.026.000 đồng.
-
- Lời Khi của những người làm chứng: NTK, THN, VMT, TTC, VTH, ĐTN trình bày phù hợp với nội dung vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CP trình bày lời luận tội, đề nghị giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xét xử bị cáo Lg về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c Khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo PTL mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bà Mộng Kh là bị hại yêu cầu bị cáo Lg bồi thường toàn bộ tài sản do bị cáo Lg trộm tại cửa hàng Quốc Trung. Bị cáo Lg đồng ý tự nguyện bồi thường. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bị cáo bồi thường toàn bộ tài sản bị mất trộm được định giá là 61.026.000 đồng cho bị hại. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị, đối với USB là vật chứng trong vụ án ghi hình lại hành vi trộm tài sản của bị cáo Lg nên đề nghị tiếp tục quản lý lưu giữ trong vụ án. Về việc tổng hợp hình phạt: Bản án số 10/2019/HS-ST ngày 24/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử bị cáo PTL về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng chưa có hiệu lực pháp luật nên không thể tổng hợp hình phạt trong bản án này, việc tổng hợp hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc tổng hợp hình phạt khi do cơ quan có thẩm quyền tổng hợp khi bản án hình sự sơ thẩm số 10/2019/HS-ST ngày 24/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn có hiệu lực pháp luật trong giai đoạn thi hành án. Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh bị cáo khó khăn, không nghề nghiệp ổn định, cao tuổi nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Lg. Về án phí dân sự sơ thẩm, do bị cáo thuộc trường hợp người cao tuổi nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Lg. Đối với đối tượng tên Đ tham gia cùng bị cáo Lg, đối tượng tên Linh tiêu thụ tài sản của bị cáo Lg chưa xác minh được lý lịch, nhân thân nên xem xét và xử lý sau.
- Bị cáo Lg, bị hại Kh không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên, bị cáo Lg xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CP, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CP, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng.
Về áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 22/6/2016. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/207 áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xét xử hành vi phạm tội của bị cáo Lg.
Về phạm vi xét xử: Trong vụ án, bị cáo Lg Khi thực hiện hành vi phạm tội còn có đối tượng VMĐ tham gia. Tuy nhiên, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CP chưa làm việc được với đối tượng Đ nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 298 của Bộ luật tố tụng dân sự chỉ xét xử đối với bị cáo Lg về hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử. Đồng thời kiến nghị cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CP tiếp tục điều tra, làm rõ hành vi của VMĐ, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm xử lý lý theo quy định pháp luật.
Đối với giá trị tài sản do bị cáo chiếm đoạt: Bị cáo Lg và bị hại thống nhất giá trị tài sản chiếm đoạt theo định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện CP.
Về người tham gia tố tụng: Bị hại Quốc Trung có đơn xin vắng mặt, người làm chứng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của bị hại, người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử nên căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về hành vi của bị cáo thể hiện như sau:
Lời Khi nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp với lời Khi của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án về phương thức, thủ đoạn, thời gian thực hiện hành vi phạm tội.
Trong vụ án, bị cáo Lg bàn bạc với đối tượng VMĐ cùng thực hiện hành vi trộm tài sản. Để thực hiện ý định, vào ngày 19/6/2016 bị cáo Lg chở Đ bằng xe mô tô dọc theo các tuyến kênh trên địa bàn huyện CP tìm tài sản để trộm, khi khảo sát và phát hiện cửa hàng vật tư nông nghiệp Quốc Trung thuộc ấp Lg Hòa, xã OLV, huyện CP thì bị cáo Lg cùng với đối tượng Đ thống nhất lấy trộm thuốc bảo vệ thực vật tại cửa hàng Quốc Trung nên chuẩn bị công cụ, phương tiện thực hiện hành vi gồm: Chiếc võ lãi Composic, một cây kéo cắt thiếc, một chìa khóa số 8, 05 cái bao loại đựng lúa. Đến 00 giờ ngày 22/6/2016 thì bị cáo Lg cùng Đ chạy võ lãi đậu trước cửa hàng Quốc Trung, bị cáo Lg và Đ đi vòng ra sau nhà kho cửa hàng, không thấy ai ngủ giữ nên bị cáo Lg và Đ dùng thang tre bắc leo mái nhà kho và dùng khóa số 8 mở nóc thiếc, dùng kéo cắt thiếc mái tole nhà kho một lỗ vừa để bị cáo Lg và đối tượng Đ trèo xuống vào kho lấy thuốc bảo vệ thực vật, bị cáo Lg và đối tượng Đ đã lấy 28 loại thuốc bảo vệ thực vật, hai con mắt camera để vào 05 cái bao rồi chuyền ra khỏi kho, mang xuống võ lãi chở đi tiêu thụ. Sau khi trộm được thuốc bảo vệ thực vật, bị cáo Lg liên hệ với tên Linh (nhà ở Tri Tôn, không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) để bán thuốc bảo vệ thực vật vừa trộm được ở cửa hàng Quốc Trung với gia 10.000.000 đồng, bị cáo Lg và đối tượng Đ chia mỗi người 5.000.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết. Tài sản mất trộm được định giá 61.026.000 đồng. Từ đó có đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo PTL đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Lg là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và bị xử lý. Bởi vì chính bị cáo từng bị đưa ra xét xử nhiều lần về hành vi trộm cắp tài sản nhưng với ý thức xem thường pháp luật, sau khi chấp hành xong hình phạt được một thời gian lại tiếp tục thực hiện hành vi lấy trộm tài sản, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp của người khác . Bản thân bị cáo không lo lao động kiếm thu nhập hợp pháp, vì muốn có tiền tiêu xài đã bất chấp pháp luật, lợi dụng đêm khuya vắng người, không người trông giữ và quản lý tài sản tại cửa hàng Quốc Trung nên bị cáo Lg chiếm đoạt tài sản, tài sản bị cáo chiếm đoạt là các loại thuốc bảo vệ thực vật, vì bị cáo cho rằng thường các cửa hàng thuốc bảo vệ thực vật không người trông giữ vào ban đêm, dễ tiêu thụ nên chọn các cửa hàng bán thuốc bảo vệ thực vật để thực hiện hành vi trộm tài sản. Ngoài việc thực hiện hành vi trộm tài sản tại cửa hàng Quốc Trung, bị cáo Lg còn thực hiện hành vi trộm tại các địa bàn khác và đã bị khởi tố, truy tố, xét xử theo thẩm quyền nơi bị cáo Lg thực hiện hành vi phạm tội.
Đối với đối tượng Võ Văn Đ, đối tượng tên Linh: Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Về tính chất vụ án: Đây là vụ án nghiêm trọng, bị cáo Lg mặc dù được xác định chưa tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Tòa án đưa ra xét xử về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo lại không sửa đổi, sau khi chấp hành xong hình phạt tù lại với ý thức xem thường pháp luật nên tham gia thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Qua xem xét, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cần xử bị cáo Lg mức án nghiêm nhằm giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
Ngày 23 tháng 4 năm 2019, bị cáo Lg bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh đưa ra xét xử và bị xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản“ theo bản án số: 17/2019/HSST ngày 23 tháng 4 năm 2019.
Ngày 24 tháng 5 năm 2019, bị cáo Lg bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn đưa ra xét xử và tổng hợp hình phạt của bản án số 17/2019/HSST ngày 23 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, hình phạt chung buộc bị cáo PTL phải chấp hành của hai bản án là 09 năm tù theo bản án số 10/2019/HS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Tuy nhiên bản án số 10/2019/HSST của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn chưa có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử không thể tổng hợp hình phạt trong cùng vụ án này. Do vậy, căn cứ khoản 3 Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, việc tổng hợp hình phạt chung của nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Lg mà các hình phạt của bản án chưa được tổng hợp thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo quy định của pháp luật hình sự.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CP áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời hạn nhất định để cải tạo, giáo dục thành công dân tốt là có căn cứ, phù hợp với hành vi phạm tội.
Các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo: Thành khẩn Khi báo, ăn năn hối cải, thuộc thành phần nhân dân lao động nghèo, nhân thân bị cáo chưa tiền án, tiền sự. Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo Lg.
Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị bại yêu cầu bị cáo Lg bồi thường 61.026.000 đồng, bị cáo đồng ý tự nguyện một mình bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 590 của Bộ luật dân sự năm 2015, ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường số tiền 61.026.000 đồng cho bị hại ông Trung và bà Kh.
Về vật chứng vụ án:
Quá trình điều tra thu giữ các vật chứng: 01 cây thang tre gỗ dài 4,5m, 01 cây thang tre gỗ dài 3,5m đã qua sử dụng nên tịch thụ tiêu hủy. Đối với USB dung lượng 08GB võ nhựa màu đen ghi hành lại hành vi lấy trộm tài sản của bị cáo tại cửa hàng Quốc Trung là vật chứng vụ án cần tiếp tục quản lý, lưu giữ trong vụ án.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Lg phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Về án phí dân sự sơ thẩn, xét thấy bị cáo Lg không nghề nghiệp ổn định, thuộc người cao tuổi, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo PTL (Ngọc, Ba Ngọc, Đoàn Văn Ngọc) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo PTL (Ngọc, Ba Ngọc, Đoàn Văn Ngọc) 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 9 năm 2018.
Đối với bản án số 10/2019/HS-ST ngày 24/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn chưa có hiệu lực pháp luật sẽ được tổng hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 590 của Bộ luật dân sự năm 2015,
Công nhận sự tự nguyện của bị cáo PTL (Ngọc, Ba Ngọc, Đoàn Văn Ngọc) bồi thường số tiền 61.026.000 đồng cho bị hại NQT và HMK.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm c khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Tiêu hủy vật chứng không có giá trị gồm: Một cây thang gỗ tre, chiều dài 4,5m đã qua sử dụng; 01 cây thang gỗ tre, chiều dài 3,5m, đã qua sử dụng.
Tịch thu và tiếp tục quản lý vật chứng trong vụ án: 01 USB, dung lượng 8GB, võ nhựa màu đen (có chép dữ liệu ghi hình ảnh đối tượng đột nhập vào cửa hàng vật tư nông nghiệp Quốc Trung trộm cắp tài sản ngày 22/6/2016, đã được niêm phong, có chữ ký của NQT).
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03 tháng 6 năm 2019 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện CP quản lý.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 12; Điểm a, f Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lg phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Lg.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, sự tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Những người tham gia tố tụng; - CA, VKS huyện CP; - Tòa án tỉnh AG; - THA Châu Phú; - Lưu HS – VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Yến Anh |