- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lù Xay P (tên gọi khác V) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 09/2019/HS-ST Ngày: 12/3/2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Cảnh.
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Trương Văn Hòa.
+ Ông Đinh Văn Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trực- Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Báu- Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2019/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:
Lù Xay P (tên gọi khác V), sinh năm: 1969 tại Trung Quốc. Nơi cư trú: Ấp TB, xã BB, huyện CM, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): không biết chữ; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Si Sinh C (đã chết) và bà Vòng S (đã chết), vợ Thạch Thị Sa K (đã ly hôn) và 01con Lù Kim T, sinh năm: 2008; tiền sự: Không;
Tiền án:
+ Ngày 15/12/1990 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 88/HSST).
+ Ngày 29/5/1992 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 (sáu) năm tù, về các tội: “Trộm cắp tài sản”; “Chiếm đoạt vũ khí quân dụng”; “Trốn khỏi nơi giam” (Bản án số: 56/HSST).
+ Ngày 08/10/1998 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 40 (bốn mươi) tháng tù, về các tội: “Cố ý gây thương tích”; “Làm nhục người khác”; “Gây rối trật tự công cộng” (Bản án số: 89/HSST).
+ Ngày 14/10/1999 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 18 (mười tám) tháng tù, về tội: “Trốn khỏi nơi giam” (Bản án số: 103/HSST).
+ Ngày 10/02/2004 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 (bốn) năm tù, về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” (Bản án số: 42/HSST).
+ Ngày 19/7/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 (ba) năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Bản án số: 37/2013/HSST). Chấp xong án phạt tù ngày 08/02/2016.
Bị bắt tạm giữ ngày 07/11/2018 đến ngày 09/11/2018 được tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 60/CQĐT-ĐTTH của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ; Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 43/LCCT-VKS ngày 12/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai; Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 04/HSST-LCĐKNCT ngày 30/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo có mặt)
- Bị hại: Bà Vòng Thín M, sinh năm: 1962.
Nơi cư trú: Tổ 18, ấp TB, xã BB, huyện CM, tỉnh Đồng Nai.
(Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1) Anh Lê Quý P, sinh năm: 1960.
Nơi cư trú: Tổ 9, ấp TB, xã BB, huyện CM, tỉnh Đồng Nai.
2) Anh Nguyễn Văn K, sinh năm: 1960.
Nơi cư trú: Ấp LT, xã BB, huyện CM, tỉnh Đồng Nai.
3) Chị Thạch Thị G, sinh năm: 1980.
Nơi cư trú: Ấp TB, xã BB, huyện CM, tỉnh Đồng Nai.
(anh P có mặt; anh K, chị G vắng mặt)
- Người làm chứng:
1) Anh Lý Đình V. (Có mặt)
2) Bà Cao Thị M. (Vắng mặt)
3) Anh Huỳnh Hữu T. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có nghề nghiệp ổn định, Lù Xay P nảy sinh ý định đến rẫy mít của bà Vòng Thín M ở ấp 3, xã XT, huyện CM, tỉnh Đồng Nai hái trộm trái mít để bán lấy tiền tiêu xài. Tiến hành, vào khoảng 13 giờ ngày 07/11/2018, Lù Xay P lấy 01 con dao thái lan, cán nhựa màu vàng, lưỡi màu trắng, dài 30cm rồi điều khiển xe mô tô biển số 60B2-469.04 đến rẫy mít của bà M. Đến nơi, P quan sát thấy không có người trông coi, P liền dựng xe rồi đi đến từng cây mít dùng dao cắt trộm tổng cộng 38 trái mít. Xong, P đến gặp anh Nguyễn Văn K, cư trú tại: Ấp LT, xã BB, huyện CM, tỉnh Đồng Nai thuê K đi gom mít, P trả công 200.000 đồng, K đồng ý rồi cùng P đi đến rẫy thu gom mít. Sau đó, P đến gặp anh Lê Quý P, cư trú tại: Tổ 9, ấp TB, xã BB, huyện CM, tỉnh Đồng Nai thuê chở mít đi, anh P đồng ý và điều khiển xe máy xới đến rẫy bà M. Khi P, Lê Quý P và K đang chuyển trái mít lên xe thì bị Công an xã Xuân Tây phát hiện, bắt quả tang.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 60/KL-HĐĐG ngày 09/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cẩm Mỹ, kết luận:
- 38 (ba mươi tám) trái mít: Trong đó, 26 (hai mươi sáu) trái mít thái đã già, trọng lượng 349kg và 12 (mười hai) trái mít siêu sớm đã già, trọng lượng 95kg có giá trị là: (349kg x 7.000 đồng/kg) + (95 kg x 25.000 đồng/kg) = 4.818.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là 4.818.000 đồng (bốn triệu tám trăm mười tám nghìn) đồng.
Tại Cáo trạng số: 07/CT-VKS-CM ngày 18 tháng 01 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ đã truy tố Lù Xay P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lù Xay P về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng như bản Cáo trạng đã nêu đồng thời đề nghị;
Tuyên bố bị cáo Lù Xay P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lù Xay P mức án từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.
Vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 con dao thái lan, cán nhựa màu vàng, lưỡi màu trắng, dài 30cm, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
Tại phiên tòa, bị cáo Lù Xay P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả, bị cáo không có ý kiến gì.
Tại phiên tòa, bị hại bà M khai tài sản bị mất ngày 07/11/2018 là 38 (ba mươi tám) trái mít, tài sản bà đã nhận lại và không có yêu cầu bồi thường.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Quý P khai 13 giờ 30 phút ngày 07/11/2018, Lù Xay P thuê anh đến rẫy để chở mít. Khi anh điều khiển xe máy xới đến rẫy bà M thì bị Công an xã Xuân Tây bắt giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo Lù Xay P đã khai nhận hành vi phạm tội. Bị cáo khai nhận, khoảng 13 giờ ngày 07/11/2018 bị cáo lấy 01 con dao (thái lan), cán nhựa màu vàng, lưỡi màu trắng, dài khoảng 30cm rồi điều khiển xe mô tô biển số 60B2-469.04 đến rẫy mít của bà M, lét lút dùng dao cắt trộm 38 trái mít. Tổng giá trị tài sản là 4.818.000 đồng (bốn triệu tám trăm mười tám nghìn) đồng. Lời khai nhận của bị cáo trùng khớp lời khai ban đầu, lời khai của bị hại, người làm chứng cùng chứng cứ khác được thu thập có tại hồ sơ vụ án.
Hành vi phạm tội của bị cáo Lù Xay P đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lù Xay P phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Lù Xay P là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương.
Xuất phát từ động cơ tư lợi, bị cáo Lù Xay P đã chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình, nhằm thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân, bị cáo đã thực hiện trót lọt tội phạm. Cho thấy, bị cáo là người liều lĩnh, xem thường pháp luật, bản thân bị cáo đã có nhiều tiền án, chưa được xóa án tích, lần phạm tội này xác định là tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, mức án bị cáo nhận lãnh phải thật nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng: Do tình tiết tái phạm nguy hiểm là dấu hiệu định khung hình phạt đối với bị cáo Lù Xay P nên không áp dụng là tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích trên, xét cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, trở thành người tốt.
Tại phiên tòa, nhận thấy bị cáo P sức khỏe không ổn định. Bị cáo khai sau khi phạm tội cho đến nay, bị cáo bị bệnh cao huyết áp (yếu tay, chân) đi lại rất khó khăn... Do đó, không bắt bị cáo ngay tại phiên tòa mà cho bị cáo được tiếp tục tại ngoại đến khi bản án có hiện lực pháp luật, bị cáo phải vào trại chấp hành án phạt tù.
Đối với phần trình bày và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận.
Đối với phần trình bày của bị cáo Lù Xay P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa.
Phần trình bày của bà Vòng Thín M, tài sản bị mất 38 trái mít bà đã nhận lại và không có yêu cầu gì.
Đối với chị Thạch Thị G là chủ phương tiện xe mô tô biển số 60B2-469.04 đã cho Lù Xay P mượn xe, chị G hoàn toàn không biết việc bị cáo sử dụng xe làm phương tiện phạm tội. Trong giai đoạn điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ đã trả lại cho chị G xe mô tô biển số 60B2-469.04 cùng 01 giấy đăng ký xe mang tên Huỳnh Hữu T, 01 giấy biên nhận mua bán xe của “Salon L” là phù hợp.
Đối với Nguyễn Văn K, Lê Quý P được bị cáo P thuê thu gom, vận chuyển số mít đi tiêu thụ. Do K và Lê Quý P không biết tài sản do P phạm tội mà có nên không phạm tội.
Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đảm bảo, phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ.
Biện pháp tư pháp:
- Trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo P chiếm đoạt của bị hại đã được thu hồi và hoàn trả lại cho chủ sở hữu (BL: 26). Tại phiên tòa, bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
- Xử lý vật chứng: 01 con dao thái lan, cán nhựa màu vàng, lưỡi màu trắng, dài 30cm, bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
(Vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Cầm Mỹ đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/01/2019).
Về án phí:
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo Lù Xay P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lù Xay P (tên gọi khác V) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1- Về hình phạt:
Xử phạt: Bị cáo Lù Xay P 03 (ba) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ trước từ ngày 07/11/2018 đến ngày 09/11/2018.
Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao thái lan, cán nhựa màu vàng, lưỡi màu trắng, dài 30cm do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
(Chi cục thi hành án dân sự huyện Cầm Mỹ đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/01/2019).
2- Về án phí: Buộc bị cáo Lù Xay P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3- Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - Công an huyện Cẩm Mỹ; - VKSND huyện Cẩm Mỹ; - TAND tỉnh Đồng Nai; - STP tỉnh Đồng Nai; - Chi cục THA.DS huyện Cẩm Mỹ; - THA hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Tấn Cảnh |