vanban.org

Bản án 09/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 22/01/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/01/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thanh X, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh X phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Trần Thanh X phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRần Thanh X. Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thanh X, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2019/HS-PT
Ngày: 22-01-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Hiệp

Các Thẩm phán:

Ông Phan Minh Dũng

Ông Nguyễn Kim Đồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Du - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 151/2018/TLPT-HS ngày 21 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Trần Thanh X do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 153/2018/HS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

* Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: TRẦN THANH X. Sinh ngày 31 tháng 8 năm 1979. Nơi sinh: Quảng Ninh. Nơi ĐKNKTT: Tổ 4, khu phố 5, phường CP, thành phố CP, tỉnh Quảng Ninh. Chỗ ở: 18/6/1 BV, phường PNL, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: Lớp 3/12. Con ông: Trần Văn Th, sinh năm 1944. Con bà: Phạm Thị T, sinh năm 1959. Vợ: Nguyễn Thị Trân Tr, sinh năm 1983, có 02 người con, con lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2011. Hiện ở tại: 18/6/1 - BV, phường PNL, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tiền án: Tại Bản án số: 07/2016/HSST ngày 26/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, Lâm Đồng xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/8/2016.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án số: 37/1998/HSST ngày 15/6/1998 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xử phạt 05 năm tù về tội “Buôn lậu hàng hóa qua biên giới”.

Bị cáo bị bắt ngày 21/4/2018. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng. Có mặt.

Trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Tiến D; Nguyễn Song Trần Tiểu H, bị hại anh Phạm Dương L, anh Vương Cẩm M, anh Ngô Thế T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Song Trần Tiểu Đ không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thanh X, Nguyễn Tiến D và Nguyễn Song Trần Tiểu H quen biết nhau từ trước. Ngày 20/4/2018, Nguyễn Song Trần Tiểu H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 79N1-740.47, mượn của em ruột là Nguyễn Song Trần Tiểu Đ, chở Nguyễn Tiến D lên thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng chơi, còn Trần Thanh X đi máy bay từ Hà Nội vào Đà Lạt. Vào khoảng 18 giờ cùng ngày, H và D lên đến Đà Lạt và thuê phòng nghỉ tại khách sạn Lan Đài ở đường 3 tháng 4, phường 3, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng. Đến khoảng 21 giờ thì X vào đến Đà Lạt và cùng đi ăn tối cùng H và D, sau đó cả ba về Khách sạn Lan Đài để nghỉ. Khoảng 01 giờ sáng ngày 21/4/2018, X rủ H và D dậy để đi ăn, H điều khiển xe mô tô chở X và D về hướng phường 11, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng, khi đi đến Khu quy hoạch nhà ở của Viện nghiên cứu hạt nhân tại phường 11, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng, X bảo H dừng xe lại để đi vệ sinh, khi đi vệ sinh, X thấy có một nhà biệt thự khóa cửa nên nảy sinh ý định lên trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định, X mượn H 01 tuốc nơ vít có trong cốp xe rồi đến căn biệt thự, cạy cửa thông gió trên tầng 2, sau khi X cạy được cửa, D leo vào bên trong rồi đi xuống tầng trệt, mở cửa sổ ra cho X. Sau đó X đi ra ngoài, đưa trả tuốc nơ vít cho H, bảo H xuống đầu dốc đứng đợi. Lúc này, H biết X và D vào nhà nói trên để trộm cắp tài sản nên H đi xuống dưới dốc, đứng cảnh giới cho X và D thực hiện việc trộm cắp. Khi vào tầng trệt, X lấy 01 đôi giày hiệu Pierre Cardin, còn D vào phòng ngủ ở tầng 1, lấy được 01 túi da màu nâu; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X; 01 cục phát Wifi; 01 Ipad Pro; 01 tai nghe hiệu Bosse; 01 ví da bên trong có 2.500.000 đồng, tất cả tài sản trên D bỏ vào trong chiếc túi da màu nâu rồi đưa cho X. Sau đó D đi lên tầng 2, tại đây có anh Ngô Thế T đang ngủ, D vào lấy trộm được: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5c; 01 đồng hồ đeo tay hiệu Casio; 01 ví da hiệu Dunhill, bên trong có 1.040.000 đồng; 01 chiếc túi da, bên trong có 01 máy ảnh hiệu Canon EOS 700D; 01 ống kính máy ảnh hiệu Canon Lens 1,4F; 01 kính đeo mắt hiệu Gucci, sau đó D bỏ tất cả tài sản lấy được ở tầng 2 vào túi da rồi đi xuống lại tầng 1, lấy 01 chân máy ảnh đưa cho X giữ, rồi cùng X đi ra ngoài theo lối cửa sổ đã vào ở tầng 1. Khi ra ngoài, nghĩ là chân máy ảnh không có giá trị nên X vứt lại ở một bụi cây gần nhà rồi điều khiển xe mô tô chở H và D về lại Khách sạn Lan Đài, nhưng lúc này do Khách sạn Lan Đài đã đóng cửa nên cả ba đến Khách sạn Thoại Châu 2, cũng ở đường 3 tháng 4, phường 3, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng để nghỉ và cất giấu số tài sản đã trộm cắp được. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, các anh: Ngô Thế T, Vương Cẩm M và Phạm Dương L phát hiện bị mất tài sản nên đã trình báo Cơ quan Công an, Công an thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng nhận được tin báo, đã tiến hành kiểm tra hành chính và mời các đối tượng X, D và H về Công an thành phố Đà Lạt làm việc và thu giữ toàn bộ số tài sản nêu trên.

Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng, trị giá tổng cộng số tài sản các bị cáo đã chiếm đoạt tại Lô B7 Khu quy hoạch nhà ở của Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt tại phường 11, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng là 68.640.000 đồng, trong đó: Tài sản của anh Phạm Dương L trị giá 32.200.000 đồng; tài sản của anh Vương Cẩm M trị giá 7.300.000 đồng và tài sản của anh Ngô Thế T trị giá 29.140.000 đồng. Đại diện những người bị hại là anh Huỳnh Vân Q đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người bị hại không có ai thắc mắc, khiếu nại gì đối với các Kết luận của Hội đồng định giá tài sản nêu trên.

Tại Bản án số: 153/2018/HSST ngày 08/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt tuyên bố bị cáo Trần Thanh X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh X 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/4/2018.

Bản án còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 22/11/2018 bị cáo Trần Thanh X kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo X khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm quy kết, không thắc mắc, khiếu nại đối với Bản án sơ thẩm; đồng thời giữ nguyên kháng cáo đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét lời khai của bị cáo Trần Thanh X tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cho thấy:

Bị cáo X đi máy bay từ Hà Nội vào Đà Lạt chơi. Khoảng 21 giờ thì X vào đến Đà Lạt và cùng đi ăn tối cùng H và D, sau đó cả ba về Khách sạn Lan Đài để nghỉ. Khoảng 01 giờ sáng ngày 21/4/2018, X rủ H và D dậy để đi ăn, H điều khiển xe mô tô chở X và D về hướng phường 11, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng, khi đi đến Khu quy hoạch nhà ở của Viện nghiên cứu hạt nhân tại phường 11, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng, X bảo Huynh dừng xe lại để đi vệ sinh, khi đi vệ sinh, X phát hiện có một nhà biệt thự khóa cửa nên nảy sinh ý định lên trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định, X mượn H 01 tuốc nơ vít có trong cốp xe rồi đến căn biệt thự, cạy cửa thông gió trên tầng 2, sau khi X cạy được cửa, D leo vào bên trong rồi đi xuống tầng trệt, mở cửa sổ ra cho X. Sau đó X đi ra ngoài, đưa trả tuốc nơ vít cho H, bảo H xuống đầu dốc đứng đợi. Lúc này, H biết X và D vào nhà nói trên để trộm cắp tài sản nên H đi xuống dưới dốc, đứng cảnh giới cho X và D thực hiện việc trộm cắp. Khi vào tầng trệt, X lấy 01 đôi giày hiệu Pierre Cardin, còn D vào phòng ngủ ở tầng 1, lấy được 01 túi da màu nâu; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X; 01 cục phát Wifi; 01 Ipad Pro; 01 tai nghe hiệu Bosse; 01 ví da bên trong có 2.500.000 đồng, tất cả tài sản trên D bỏ vào trong chiếc túi da màu nâu rồi đưa cho X; Sau đó D đi lên tầng 2, tại đây có anh Ngô Thế T đang ngủ, D vào lấy trộm được: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5c; 01 đồng hồ đeo tay hiệu Casio; 01 ví da hiệu Dunhill, bên trong có 1.040.000 đồng; 01 chiếc túi da, bên trong có 01 máy ảnh hiệu Canon EOS 700D; 01 ống kính máy ảnh hiệu Canon Lens 1,4F; 01 kính đeo mắt hiệu Gucci, sau đó D bỏ tất cả tài sản lấy được ở tầng 2 vào túi da rồi đi xuống lại tầng 1, lấy 01 chân máy ảnh đưa cho X giữ, rồi cùng X đi ra ngoài theo lối cửa sổ đã vào ở tầng 1. Khi ra ngoài, nghĩ là chân máy ảnh không có giá trị nên X vứt lại ở một bụi cây gần nhà.

Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng, trị giá tổng cộng số tài sản các bị cáo đã chiếm đoạt tại Lô B7 Khu quy hoạch nhà ở của Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt tại phường 11, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng là 68.640.000 đồng.

Đối chiếu lời khai nhận của các bị cáo, lời khai của người hại, kết quả định giá trong tố tụng hình sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Trần Thanh Xuân phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Thanh X 05 năm tù là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Thanh Xuân thấy rằng; hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Mặt khác, đánh giá về loại tội phạm trộm cắp tại địa phương xảy ra phức tạp và có xu hướng gia tăng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Năm 2016 bị cáo X bị Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, Lâm Đồng xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/8/2016, bị cáo chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng, nay lại tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Lần phạm tội này bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để tuyên phạt bị cáo với mức án 05 năm tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới, nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm như ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Trần Thanh X không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thanh X, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo Trần Thanh X 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/4/2018.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Trần Thanh X phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ