vanban.org

Bản án 09/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 09/01/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/01/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị H và người bị hại Trần Văn T, không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. TAND Tối cao; TAND Cấp cao; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị H và người bị hại Trần Văn T, không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2019/HS-PT
Ngày 09/01/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huờn

Các thẩm phán: Ông Y Phi Kbuôr và ông Hoàng Kim Khánh

- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Thành Trung – Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thủy- Kiểm sát viên.

Mở phiên tòa ngày 09/01/2019, tại trụ sở TAND tỉnh Đắk Lắk, để xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 387/2018/HSPT ngày 03/12/2018, đối với bị cáo Nguyễn Thị H, do có kháng cáo của bị cáo và người bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2018/HSST ngày 26/9/2018 của TAND huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1966 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 4/12; tiền án: Không; tiền sự: Không; con ông: Nguyễn Văn D (đã chết) và bà: Lê Thị T, sinh năm 1924; Có chồng: Nguyễn Văn C, sinh năm 1966; Có 03 con (Con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 1999).

Bị cáo tại ngoại: Có mặt

Người bị hại: Anh Trần Văn T, sinh năm 1992- Có mặt

Nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Người có quyền lợi liên quan đến vụ án:

- Anh Trần Văn S, sinh năm 1995- Vắng mặt

- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1966 - Có mặt

Cùng địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau sau:

Ông Nguyễn Văn C đã có vợ là bà Nguyễn Thị H; Năm 2005, ông C chung sống như vợ chồng với bà Phạm Thị Châu L (là mẹ của Trần Văn T, Trần Văn S) và có một con chung là cháu Nguyễn Văn N, sinh năm 2008. Quá trình chung sống, giữa ông C và bà L phát sinh mâu thuẫn, năm 2015 ông C đưa cháu N về nhà mình nuôi dưỡng. Khoảng 19 giờ, ngày 17/01/2016, Trần Văn S cùng với hai người bạn là Hoàng Thế T và Nguyễn Đức T, đi về nhà bà L, để S lấy giày đi chơi. Khi về nhà, S nghe bà L kể lại ông Nguyễn Văn C không cho cháu N đi học nữa, thì S tức giận định đi đến nhà ông C để hỏi lý do nhưng bà L không đồng ý. Thấy vậy, Hoàng Thế T đã gọi điện cho Nguyễn Văn T là anh trai của S, bảo Nguyễn Văn T về nhà giải quyết. Khoảng 10 phút sau, T về nhà và ngăn cản S đến nhà ông C; T nói với S "Ngày mai là đám cưới của T, xong đám cưới rồi đến nhà ông C cũng chưa muộn" nhưng S không nghe.

Đến khoảng 20h cùng ngày, S đi đến nhà ông C; Khoảng 5 phút sau, bà L sợ S đến nhà ông C gây sự, nên bảo Nguyễn Văn T đi đến nhà ông C. Một lúc sau, bà L lại bảo Hoàng Thế T và Nguyễn Đức T đi theo T đến nhà ông C. Khi S đến sân nhà ông C, thì thấy gia đình ông C đang xem ti vi tại phòng khách, S nói "Hôm nay tao sẽ giết chết hết chúng mày"; Nguyễn Văn C1 (con ông C, bà H) trong nhà đi ra sân và dùng cây cà phê đánh S; S đưa tay lên đỡ, thì ông C từ trong nhà đi ra, lấy cây cuốc xạc cỏ trên sân và dùng cuốc bổ vào tay phải của S. S thấy trên sân có khúc cây cà phê, S nhặt cây cà phê đánh vào ngực ông C một cái. Lúc này, Nguyễn Văn T vừa đến sân nhà ông C, thấy tay S chảy máu, nên T đã nhặt vỏ chai bia trên sân, ném về phía C1 đang đứng ở phía cửa bếp nhưng vỏ chai bia trúng vào tường nhà. Sau đó, T cúi xuống nhặt cây gậy ở sân, thì bị trượt chân ngã chúi người về phía trước; Ông C chạy đến ôm ngang người T từ phía sau lưng; Ông C khóa tay trái của T ra phía sau lưng, dùng chân chèn vào chân của T, để T không đứng dậy được. Lúc này, T trong tư thế khom lưng, tay phải cầm gậy chống xuống đất. Thấy vậy, Nguyễn Thị H từ trong nhà chạy ra, nhặt chiếc cuốc đang chặn trên đống cà phê ở sân, rồi cầm cuốc đi vòng từ bên phải ra sau lưng anh T, đến phía trước T và ông C, dùng cuốc bổ vào đầu T, làm T ngã gục xuống sân. Sau đó, H thả cuốc rồi chạy đi báo chính quyền địa phương. Lúc này ông C buông T ra và cầm cuốc đi đến nơi S đang đứng; Khi thấy C1 giật cây gậy trên tay S, ông C dùng cán cuốc đánh vào chân S mấy cái, làm S ngã khuỵu xuống sân nhà ông C. Hoàng Thế T và Nguyễn Đức T đến nhà ông C, thấy T bị thương, nên đã đưa T đi cấp cứu.

Các bản kết luận pháp y thương tích số:1178/PY-TgT, số:1179/PY-TgT ngày 27/10/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận:

Trần Văn T bị vết thương sọ não, nứt sọ, tụ máu nội sọ. Tỷ lệ thương tích 44%; Vật tác động: Sắc bén.

Trần Văn S bị vết thương phần mềm cánh tay phải; Tỷ lệ thương tích 04%; Vật tác động: sắc bén.

Bản kết luận định giá tài sản số 08/KL - ĐGTS, ngày 19/01/2017 của Hội đồng định giá tài sản số 396 huyện K kết luận: Thiệt hại hư hỏng của xe mô tô biển số 47P1 - 9322 có giá trị 265.000đ

Bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2018/HSST ngày 26/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar đã áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 05 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn giải quyết bồi thường, xử lý vật chứng, quyết định án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 09/10/2018, bị cáo Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Người bị hại Trần Văn T cũng có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại tội danh đối với bị cáo Nguyễn Thị H và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Nguyễn Thị H khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 17/01/2016, anh em Trần Văn T và Trần Văn S đến nhà bị cáo đe dọa giết cả gia đình bị cáo, dẫn đến chồng của bị cáo là Nguyễn Văn C và con của bị cáo là Nguyễn Văn C1, đã đánh nhau với T và S tại sân nhà của bị cáo. Khi thấy ông C ôm giữ T từ phía sau lưng, trong tư thế T khom lưng, bị cáo đã nhặt cây cuốc xạc cỏ trên sân, đi vòng ra phía sau lưng của T và ông C, đến phía trước đối diện với vai trái của T và ông C, bị cáo dùng cuốc bổ vào đầu T một nhát; Sau đó bị cáo vứt cây cuốc tại sân và đi báo sự việc với chính quyền địa phương.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại Trần Văn T khai rằng: Khi anh đến sân nhà ông C, thì thấy em trai của anh là Trần Văn S bị thương tích ở cánh tay, nên anh đã nhặt võ chai bia ném vào người Nguyễn Văn C1 đang cầm gậy nhưng không trúng. Do anh đứng trên đống hạt cà phê được phủ tấm bạt trên sân, nên bị trượt chân ngã xuống đất, ông C dùng hai tay ôm giữ anh từ phía sau lưng, trong tư thế anh khom lưng; thấy bà Nguyễn Thị H từ trong nhà đi ra, ông C nói với bà H “Đánh chết nó đi”; Bà H cầm cây cuốc xạc cỏ nhưng lưỡng lự chưa đánh anh, thì ông C nói “Đánh nó đi”, bà H đã dùng cuốc bổ vào đỉnh đấu của anh, gây thương tích cho anh.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Văn C khai rằng: Khi ông ôm giữ Trần Văn T từ phía sau lưng, ông dùng tay khóa tay trái anh T về sau lưng, hai chân của ông chèn vào hai chân anh T, trong tư thế anh T đang khom lưng, tay phải anh T cầm gậy chống xuống đất, thì bà H từ trong nhà đi ra phía phía sau lưng của ông và anh T; Sau đó bà H dùng cuốc xạc cỏ bổ vào đầu anh T vào lúc nào, ông không nhìn thấy và không biết.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện VKSND tỉnh Đắk Lắk cho rằng: Bản án sơ thẩm tuyên xử bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội cố ý gây thương tích, theo điểm c khoản 3 điều 134 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét hình phạt mà án sơ thẩm xử phạt bị cáo là có phần nghiêm khắc. Bởi lẽ, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, được quy định tại các điểm b, e, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo và người bị hại, giảm hình phạt cho bị cáo và xử phạt bị cáo 05 năm tù về tội Cố ý gây thương tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Vụ án cố ý gây thương tích xảy ra vào khoảng 20 giờ 20 phút ngày 17/01/2016, tại sân nhà ông Nguyễn Văn C, thuộc thôn H, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ hồ sơ bệnh án điều trị, thì anh Trần Văn T bị vết thương nằm ngang vùng đỉnh đầu, dài 7cm, sâu lộ nứt sọ; Vết thương sắc gọn. Kết quả giám định, anh T bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ 44%.

Tại biên bản ghi lời khai đầu tiên vào ngày 22/02/2016, đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự ngày 31/8/2016, anh T khai rằng ngay sau khi anh bị trượt chân tại đống hạt cà phê sân nhà ông C và ngã xuống sân, thì ông C đã dùng cây cuốc xạc cỏ bổ vào đầu anh, gây thương tích cho anh.

Tại biên bản ghi lời khai đầu tiên vào ngày 20/01/2016, anh Trần Văn S cũng khai ông C là người dùng cuốc bổ vào đầu anh T.

Tuy nhiên đến ngày 12/9/2017, anh T và anh S thay đổi lời khai và cho rằng: Khi anh T trượt chân ngã tại đống hạt cà phê sân nhà ông C, thì ông C đã ôm giữ anh T từ phía sau lưng, trong tư thế anh T đang khom lưng, thấy bà Nguyễn Thị H từ trong nhà đi ra sân, ông C nói với bà H “Đánh chết nó đi”, nên bà H đã dùng cây cuốc xạc cỏ bổ vào đầu anh T. Lý do anh T và anh S thay đổi lời khai: Trong thời gian ông C chung sống như vợ chồng với mẹ của các anh là bà Phạm Thị Châu L, ông C đã đánh đập mẹ con các anh, đập phá bàn thờ và ảnh thờ của bố các anh, nên các anh khai ông C là người dùng cuốc xạc cỏ bổ vào đầu anh T, để ông C phải chịu trách nhiệm hình sự.

Trong thời từ ngày 21/01/2016 đến ngày 18/10/2016, bị cáo Nguyễn Thị H khai rằng: Khi ông C ôm giữ T từ phái sau lưng, trong tư thế anh T đang khom lưng, bị cáo đã cầm cuốc đứng sau lưng anh T và ông C, dùng cuốc bổ vào đầu anh T. Từ ngày 13/11/2017, bị cáo thay đổi lời khai và khai rằng: Bị cáo đứng đối diện vai trái của anh T và ông C, dùng cuốc bổ vào đầu của anh T.

[2] Căn cứ vào biên bản thực nghiệm điều tra ngày 04/01/2017, khi ông C ôm giữ T từ phái sau lưng, trong tư thế anh T đang khom lưng, thì bị cáo không thể cầm cuốc đứng sau lưng của anh T và ông C, dùng cuốc bổ vào đầu anh T được. Bởi lẽ, khi ông C giữ T từ phía sau lưng, trong tư thế anh T đang khom lưng, thì ngực và bụng ông C áp sát vào lưng anh T; đầu của ông C nằm song song và phía trên đầu anh T; Nếu bị cáo đứng phía sau lưng anh T và ông C, dùng cuốc bổ vào đầu anh T, thì lưỡi cuốc sẽ trúng vào đầu ông C.

[3] Bị cáo Nguyễn Thị H thay đổi lời khai và cho rằng: Bị cáo đứng đối diện vai trái của anh T và ông C, dùng cuốc bổ vào đầu của anh T. Bản kết luận điều tra, Bản cáo trạng và Bản án sơ thẩm, chấp nhận lời khai của bị cáo và quy kết Nguyễn Thị H dùng cuốc bổ vào đầu anh T, trong tư thế bị cáo đứng đối diện vai trái của anh T và ông C. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, không có căn cứ để chấp nhận. Bởi lẽ, căn cứ bản ảnh thực nghiệm điều tra, nếu bị cáo đứng đối diện vai trái của anh T và ông C, dùng cuốc bổ vào đầu anh T, thì lưỡi cuốc sẽ tạo nên vết thương dọc theo đỉnh đầu của anh T.

Vết thương trên đầu của anh T dài 7cm và nằm ngang đỉnh đầu, nên người dùng cuốc bổ vào đầu anh T, trong tư thế ông C ôm giữ T từ phía sau lưng, thì người dùng cuốc bổ vào đầu anh T, phải đứng đối diện với anh T, mới tạo ra vết thương như vậy được.

[4] Cơ quan điều tra, tiến hành thực nghiệm điều tra cũng chưa đúng với khai của ông C. Bởi lẽ, ông C khai rằng khi ông ôm giữ anh T từ phía sau lưng, ông C đã dùng tay khóa tay trái của anh T về phía sau lưng nhưng bản ảnh thực nghiệm điều tra, thì ông C dùng tay trái, khóa tay trái của anh T dưới bụng của anh T, là không đúng với lời khai của ông C.

[5] Quá trình điều tra vụ án, bị cáo Nguyễn Thị H có dấu hiệu nhận tội thay cho chồng là Nguyễn Văn C. Bởi lẽ, ông C và anh Trần Văn S đều thừa nhận, thương tích 04% trên cánh tay phải của anh S, là do ông C dùng cuốc bổ vào tay anh S nhưng bị cáo H lại khai nhận: Sau khi bị cáo dùng cuốc bổ vào đầu anh T, bị cáo tiếp tục dùng cuốc bổ vào tay anh S.

Như vậy, việc điều tra vụ án ở cấp sơ thẩm là chưa đầy đủ, mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được; Lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị H là mâu thuẫn, không phù hợp với thương tích trên đầu của người bị hại Trần Văn T. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra lại.

Nếu kết quả điều tra lại, có căn cứ để chứng minh Nguyễn Thị H là dùng cuốc xạc cỏ bổ vào đầu anh T, trong tư thế ông C đang ôm giữ anh T, thì phải khởi tố ông Nguyễn Văn C về tội cố ý gây thương tích, với vai trò là người đồng phạm. Bởi lẽ, quá trình điều tra, ông C thừa nhận khi ông ôm giữ anh T từ phía sau lưng, ông C nhìn thấy bị cáo H từ trong nhà đi ra và lấy cây cuốc xạc cỏ trên sân, đi đến nơi ông C đang ôm giữ anh T; ông C hoàn toàn nhận thức được mục đích của Nguyễn Thị H là dùng cuốc gây thương tích cho anh T; ông C đã tiếp nhận mục đích phạm tội của bị cáo H, nên tiếp tục ôm giữ, khống chế anh T, để cho Nguyễn Thị H dùng cuốc gây thương tích cho anh T; Hơn nữa, anh T và anh S còn khai rằng: Khi ông C đang ôm giữ anh T, thấy bà H từ trong nhà đi ra, ông C đã nói với bà H “Đánh chết nó đi”, nên bà H đã cầm cuốc bổ vào đầu anh T.

Nguyễn Thị H thừa nhận từ trước đến nay không có mâu thuẫn gì với anh T và anh S; Bị cáo cho rằng việc dùng cuốc bổ vào đầu anh T, để tự vệ cho ông C, là không có căn cứ. Bởi lẽ, ông C đang ôm giữ anh T từ phía sau lưng; anh T bị ông C khóa tay, khóa chân và đè trên lưng, trong tư thế khom lưng; anh T bị ông C khống chế hoàn toàn, không có khả năng gây thương tích cho ông C.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355 và điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2018/HS-ST ngày 26/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar để điều tra lại.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị H và người bị hại Trần Văn T, không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ