- Tranh chấp gì? án hình sự — "Le Van M gây thương tích Tran Nhut P - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? [1] Phần trách nhiệm hình sự do không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 468 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2019/HS-PT Ngày 25-01-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tỉnh
Các Thẩm phán: Ông Bùi Thế Xương
Ông Tôn Văn Thông
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Yến Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Ngọc Nồm - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 81/2018/TLPT-HS ngày 12 tháng 12 năm 2018 đối với Lê Văn M do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 60/2018/HS-ST ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre về phần trách nhiệm dân sự.
- Người có liên quan đến kháng cáo (nguyên là bị cáo trong vụ án):
- Lê Văn M (Dũng), sinh năm: 1990 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Ấp TT, xã TP, huyện CT , tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn V và bà Trần Thị T ; vợ: Nguyễn Thị Cẩm T ; có 01 người con sinh năm 2018; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt; có mặt.
- Bị hại: Trần Nhựt P , sinh năm 1978. Nơi cư trú: Ấp HL, xã TP, huyện CT , tỉnh Bến Tre. Có mặt.
- Người kháng cáo:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Văn V , sinh năm 1968. Nơi cư trú: Ấp TT, xã TP, huyện CT , tỉnh Bến Tre. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 9/10/2017, Lê Văn M (Dũng), thấy Triệu Quang Thanh Tr đi qua trước nhà nên kêu lại nói chuyện vì trước đó Tr có đạp ngã xe của mẹ ruột M là bà Trần Thị Tươi. Trong lúc nói chuyện M và Tr có xô xát đánh nhau. Lúc đó, Trần Nhựt P (Tr là người làm thuê của P ) đi đến nhìn thấy nên vào can ngăn. Cùng lúc đó, ông Lê Văn V là cha ruột của M đi vào trong nhà ra nhìn thấy tưởng P và Tr cùng đánh M nên xông đến dùng tay đánh P . Do bị đánh nên P cũng dùng tay đánh lại nhiều cái vào người ông V . Trong lúc đánh nhau với Tr , M nhìn thấy ông V bị P đánh nên liền chạy vào trước sân tiệm sửa xe của anh Nguyễn Ngọc H (No) ở gần đó lấy con dao chét để dưới chậu kiểng. M cầm dao chém trúng một phát vào tay trái của P . Lúc này, ông V nhặt được thanh gỗ tròn gần đó đánh trúng vào vai trái của P . Sau khi dùng cây đánh P ông V và M chạy vào nhà đóng cửa lại, P được đưa đi cấp cứu. Sau đó, Lê Hồng Tuyết M (vợ P ) và Trần Nhựt Nam đến nhà dùng phuộc xe máy và đá đập phá cửa kính, ghế nhựa nhà của ông V . Ngày 18/10/2017, Trần Nhựt P có đơn yêu cầu khởi tố hình sự đối với Lê Văn M .
Vật chứng thu giữ gồm: 01 con dao chét dài 58,5cm, cán dao bằng gỗ tròn dài 27cm, lưỡi bằng kim loại màu đen dài 31,5cm, có một cạnh sắt, mũi dao nhọn; 01 đoạn gỗ tròn dài 59cm, đường kính 04cm, 01 phuộc xe máy bằng kim loại và nhiều mảnh vỡ của kính thủy tinh, 02 ghế nhựa.
Tại Giấy chứng nhận thương tích số 26 ngày 14/11/2017 của Bệnh viện đa khoa M Đức, tỉnh Bến Tre và Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 286-1117 ngày 01/12/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Bến Tre kết luận thương tích Lê Văn V như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sưng nề vùng thái dương phải dài 03 × 04cm đã hết, không còn để lại vết.
- Vết thương mặt phải đã lành sẹo, kích thước 1,5cm × 0.1cm không ảnh hưởng đến thẩm mỹ.
2. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích là 03%.
Tại Giấy chứng nhận thương tích số 339 ngày 27/10/2017 của Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre và Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 284-1117 ngày 01/12/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Bến Tre kết luận thương tích Trần Nhựt P với tỷ lệ phầm trăm tổn thương cơ thể do thương tích là 11%.
Ngày 05/01/2018 bị hại Trần Nhựt P có đơn yêu cầu giám định lại tỷ lệ thương tật. Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an huyện Châu Thành đã ra Quyết định trưng cầu Phân viện Pháp y Quốc gia tại thành phố Hồ Chính M giám định lại tỷ lệ thương tật của Trần Nhựt P .
Tại Bản kết luận giám định Pháp y về thương tích số 20/18 ngày 23/02/2018 của Viện Pháp y Quốc gia - Phân viện tại TP HCM kết luận thương tích của Trần Nhựt P có tỷ lệ tổn thương cơ thể từng thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Trần Nhựt P là:
+ Sẹo khủy trái: 08%.
+ Gãy xương đòn trái là gãy xương cũ trước ngày 09/10/2017 nên không xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
+ Gãy xương sườn số VII trái can xương liền tốt: 03%.
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Trần Nhựt P là 11%.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 596 ngày 11/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện Châu Thành kết luận 03 tấm kính thủy tinh thường, màu trắng, có cùng kích thước (0,9 × 1,1)m, loại 02 ly, trên kính có nhiều hoa văn giá trị 690.000đồng; 01 tấm kính thủy tinh thường, màu trắng, có kích thước (0,65 × 1,4)m, loại 02 ly, trên kính có nhiều hoa văn giá trị 215.000đồng; 01 cửa kéo kim loại thường, màu sơn xanh xám, có dấu vết biến dạng gồm 01 dấu vết kích thước (3 × 2,5)cm trên hộp tay kéo bên phải, cách đầu dưới hộp tay kéo dài 150cm và 01 dấu vết kích thước (5 × 8,5)cm trên tay kéo bên trái, cách đầu dưới hộp tay kéo dài 120cm thống nhất không xác định giá trị; 02 ghết nhựa màu xanh trị giá 40.000đồng. Tổng giá trị tài sản 945.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 60/2018/HS-ST ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn M phạm “Tội cố ý gây thương tích”;
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 104; điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33; Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999;
Xử phạt Lê Văn M 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 06/11/2018.
Giao bị cáo Lê Văn M về cho Ủy ban nhân dân xã TP, huyện CT , tỉnh Bến Tre phối hợp cùng với gia đình giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự 2015; các Điều 584, 585, 586; 590 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015. Buộc bị cáo Lê Văn M và ông Lê Văn V có trách nhiệm liên đới bồi thường cho anh Trần Nhựt P số tiền 51.616.000 đồng (Năm mươi mốt triệu sáu trăm mười sáu nghìn) đồng.
Ghi nhận chị Lê Hồng Tuyết M (vợ P ) không yêu cầu bồi thường thu nhập bị mất trong thời gian chăm sóc anh P điều trị thương tích.
Ghi nhận ông Lê Văn V không yêu cầu bồi thường chi phí điều trị thương tích.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, đồng thời có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu bị cáo chưa thi hành số tiền nêu trên thì phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Lê Văn M và Lê Văn V phải liên đới chịu là 2.580.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí hình sự sơ thẩm, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 19/11/2018, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn V kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy phần trách nhiệm dân sự của bản án sơ thẩm. Với các lý do: Buộc ông liên đới bồi thường là không có căn cứ vì ông không gây ra thương tích cho Trần Nhựt P 03%; ông có bị thương tích và có yêu cầu giải quyết bồi thường là 27.054.000 đồng (gồm tiền thuốc, tiền xe, mất thu nhập và tổn thất về tinh thần) nhưng không được Tòa án giải quyết và không được đề cấp trong bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông Lê Văn V giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Lê Văn M khai chỉ dùng dao chém gây thương tích anh P ở khủy tay; còn thương tích xương đòn sau này biết là do ông V đánh gây ra, anh M đồng ý theo kháng cáo của ông V là tự nguyện chịu trách nhiệm bồi thường cho anh P toàn bộ số tiền 51.616.000 đồng ông V không phải bồi thường.
Trần Nhựt P khai bị Lê Văn M dùng dao chém gây thương tích ở khủy tay (8%), còn vết thương gãy xương sườn số VII trái (3%) không xác định nguyên nhân nào gây ra và do ai gây ra, còn vết thương gãy xương đòn trái là do ông V dùng cây đánh gây ra và anh cho rằng có bị gãy xương đòn một lần khi còn nhỏ. Anh P không đồng ý theo kháng cáo của ông V .
Ông Lê Văn V khai có dùng cây đánh vào vai trái của Nhựt P .
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau: Đơn kháng cáo của ông V làm trong hạn luật định. Xét kháng cáo của ông V thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ vai trò đồng phạm của ông V mà buộc ông V cùng bồi thường là không có căn cứ, kháng cáo của ông V là có cơ sở. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của ông V sửa bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự. Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự 2015; các Điều 584, 585, 586; 590 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015. Buộc Lê Văn M có trách nhiệm bồi thường cho anh Trần Nhựt P số tiền 51.616.000 đồng (Năm mươi mốt triệu sáu trăm mười sáu nghìn) đồng. Các phần khác cảu bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông V gửi đến Tòa án trong thời hạn kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông V không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Qua lời khai của Lê Văn M , bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kết hợp các chứng cứ đã thu thập có cơ sở xác định. Vào khoảng 18 giờ ngày 9/10/2017, Lê Văn M , thấy Triệu Quang Thanh Tr đi qua trước nhà nên kêu lại nói chuyện. Trong lúc nói chuyện M và Tr xô xác đánh nhau. Lúc đó, Trần Nhựt P đi đến nhìn thấy nên vào can ngăn. Cùng lúc, ông Lê Văn V là cha ruột của M nhìn thấy tưởng P và Tr cùng đánh M nên xông đến dùng tay đánh P . Do bị đánh nên P cũng dùng tay đánh lại nhiều cái vào người ông V . Trong lúc đánh nhau với Tr , M nhìn thấy ông V bị P đánh nên liền chạy vào trước sân tiệm sửa xe của anh Nguyễn Ngọc H ở gần đó lấy con dao chét. M dùng dao chém trúng một phát vào tay trái của P . Lúc này, ông V nhặt được thanh gỗ tròn gần đó đánh trúng vào vai trái của P , P được đưa đi cấp cứu. H quả Trần Nhựt P có các thương tích: Sẹo khủy trái: 08%; Gãy xương đòn trái là gãy xương cũ trước ngày 09/10/2017 nên không xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể; Gãy xương sườn số VII trái can xương liền tốt: 03%.
Phần trách nhiệm hình sự không có kháng cáo kháng nghị nên không xem xét, đã phát sinh hiệu lực pháp luật thi hành.
Xét kháng cáo của ông V , Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Trong vụ án có nhiều người cùng đánh nhau và bị hại có nhiều thương tích ở các V trí trên cơ thể khác nhau. Tòa án cấp sơ thẩm xác định Lê Văn M gây tổn thương cơ thể (sẹo khủy trái) của Trần Nhựt P là 08%. Thương tích gãy xương sườn số VII trái: 03% bản án sơ thẩm không xác định do ai gây ra. Đối với thương tích gãy xương đòn trái của anh P do ông V dùng cây đánh, khi đó Kết luận giám định kết luận “Gãy xương đòn trái là gãy xương cũ trước ngày 09/10/2017 nên không xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể”, tại phiên tòa sơ thẩm anh P yêu cầu ông V và Lê Văn M bồi thường, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ yêu cầu của anh P , vai trò và trách nhiệm của ông V về tính đồng phạm lại buộc ông V bồi thường là không phù hợp. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm Lê Văn M tự nguyện nhận bồi thường toàn bộ số tiền mà bản án sơ thẩm đã tuyên cho anh P mà ông V không phải bồi thường. Xét đây là sự tự nguyện của anh M nên được ghi nhận để anh M thực hiện. Đối với kháng cáo ông V yêu cầu anh P bồi thường thiệt hại do bị gây thương tích tổn thương cơ thể 03%. Yêu cầu này đã được bản án sơ thẩm ghi nhận là “ông V không yêu cầu bồi thường chi phí điều trị thương tích” nhưng nội dung này bị ông V kháng cáo và ông V yêu cầu thêm nhiều phần bồi thường. Xét yêu cầu bồi thường của ông V có nhiều khoản chưa được cấp sơ thẩm giải quyết và không thỏa thuận được tại phiên tòa phúc thẩm nên cần tách yêu cầu bồi thường của ông V để ông kiện bằng vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu. Vì các lẽ trên, chấp nhận một phần kháng cáo của ông V và sự tự nguyện bồi thường của Lê Văn M sửa bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự mà không phải hủy bản án sơ thẩm, theo như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
Do thay đổi trách nhiệm bồi thường nên điều chỉnh trách nhiệm chịu án phí dân sự sơ thẩm cho phù hợp.
Về án phí: ông Lê Văn V và Lê Văn M không phải chịu án phí hình sự, dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lê Văn V , sửa bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự.
[1] Phần trách nhiệm hình sự do không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự 2015; các Điều 584, 585, 586; 590 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015. Buộc Lê Văn M có trách nhiệm bồi thường cho anh Trần Nhựt P số tiền 51.616.000 đồng (Năm mươi mốt triệu sáu trăm mười sáu nghìn) đồng.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, đồng thời có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu người phải thi hành án chưa thi hành số tiền nêu trên thì phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.
[3] Về án phí: án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Lê Văn M phải nộp là 2.580.000 (Hai triệu năm trăm tám mươi ngàn) đồng.
Lê Văn M và Ông Lê Văn V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, án phí dân sự phúc thẩm.
[4] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
| - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - Vụ GĐKT I – Tòa án nhân dân tối cao (1b); - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Bến Tre (1b); - Tòa án nhân dân huyện Châu Thành (3b); - Công an và VKSND huyện Châu Thành (2b); - Chi cục THADS huyện Châu Thành (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b); - UBND xã TP, huyện CT , tỉnh Bến Tre (1b); - Bị cáo tại ngoại (1b); - Phòng KTNV & THA, Tòa Hình sự, Văn phòng TAND tỉnh Bến Tre (3b); - Lưu hồ sơ vụ án (1b). | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Văn Tỉnh |