- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
- Tòa quyết gì? 1/Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
| TAND TP. PHAN THIEÁT CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2019/HNGĐ-ST Ngày: 01/4/2019. Về việc “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xử án gồm:
Chủ tọa phiên tòa- Thẩm phán: Bà Vũ Thị Thanh Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Lê Văn Chơn
2. Bà Lê Thị Kiều Thu
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Quách Văn Hoàng- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 01 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 700/2018/TLST-HNGĐ ngày 05/12/2018 “V/v: Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/02/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11/3/2019, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Bà Võ Thúy H, sinh năm: 1994 (có mặt). Trú tại: 160/39 Nguyễn Hữu T, phường T, quận T, Tp. Hồ Chí Minh.
-Bị đơn: Ông Nguyễn Trần H, sinh năm: 1992 (vắng mặt).
Trú tại: 3A/31/03 Nguyễn Văn C, khu phố 06, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
NHẬN THẤY
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Võ Thúy H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Trần H tự nguyện tìm hiểu yêu thương nhau, chung sống với nhau năm 2015 có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND Phường 02, quận T, Tp. Hồ Chí Minh.
Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 08/2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do lối sống không phù hợp, giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Ông H không làm tròn trách nhiệm của người chồng người cha, giao phó trách nhiệm nuôi con cho bà. Ngày 15/8/2018 sau khi bà đi làm về ông H đặt điều nói bà đi ngoại tình; hơn nữa mỗi lần vợ chồng cãi nhau thì ông H lại đòi đưa con đi vào 12 giờ khuya. Khi bà không đồng ý giao con cho ông H thì ông đánh đập bà và đe dọa giết cả nhà bà. Ông bà đã sống ly thân từ tháng 8/2018 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau hạnh phúc được nên mong Tòa giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.
Về con chung: có 01 con chung Nguyễn Thanh Tâm C (nam), sinh ngày 05/8/2015. Nếu ly hôn bà xin được trực tiếp nuôi con và yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa bà H trình bày: vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Hưng để ổn định cuộc sống vì tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn để chung sống với nhau được.
* Bị đơn ông Nguyễn Trần H:
Ông Nguyễn Trần H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần cũng như tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng như Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Hưng cũng không đến Tòa án và cũng không trình bày ý kiến của mình.
Vụ việc đã không hòa giải được do ông H không đến Tòa án.
Sau khi những người tham gia tố tụng trình bày ý kiến, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu ý kiến về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, của nguyên đơn; kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Bị đơn chấp hành chưa tốt các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử, xử theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: về quan hệ hôn nhân: bà Võ Thúy H được ly hôn với ông Nguyễn Trần H; Về con chung: giao cháu Tâm C cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông H phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng; Về tài chung và nợ: không yêu cầu giải quyết nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về trình tự thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Trần H cư trú tại khu phố 06, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ theo quy định tại khoản 01 Điều 28; điểm a khoản 01 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thúy H về việc “Ly hôn, nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
Ông Nguyễn Trần H đã được Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thúy H và ông Nguyễn Trần H có đăng kí kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 173/2015 quyển số 01/2015 ngày 06/11/2015 tại UBND Phường 02, quận T, Tp. Hồ Chí Minh nên quan hệ hôn nhân của ông H và bà H là hợp pháp.
Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã có thời gian hàn gắn nhưng vẫn không đạt được kết quả. Tại phiên tòa, bà Hg đã xác định có hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng vẫn không có hiệu quả, hơn nữa mỗi lần xảy ra mâu thuẫn thì ông H lại có hành vi bạo hành đối với bà. Theo khoản 01 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” và Theo khoản 02 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “vợ chồng có nghĩa vụ chung sống với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”. Theo khoản 03 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình …”.
Hội đồng xét xử xét thấy, bà H và ông H đã sống ly thân từ tháng 8/2018 đến nay, hơn nữa mỗi lần xảy ra mâu thuẫn thì ông H lại có hành vi bạo hành đối với bà, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên không cần thiết phải duy trì cuộc hôn nhân này.
Tại phiên tòa hôm nay ông H vẫn không có mặt chứng tỏ ông H đã khước từ quyền tham gia tố tụng của mình, nên việc xét xử vắng mặt ông Hưng là phù hợp theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đảm bảo quyền chính đáng, hợp pháp của bà Hằng.
Từ những nhận định trên yêu cầu xin ly hôn của bà H đã thỏa mãn điều kiện quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, đủ cơ sở kết luận yêu cầu ly hôn của bà H chính đáng, phù hợp với các căn cứ quy định pháp luật.
Về con chung: có 01 con chung Nguyễn Thanh Tâm C (nam), sinh ngày 05/8/2015.
Hội đồng xét xử, xét thấy hiện cháu Tâm C đang ở với bà H, hơn nữa cháu bị bệnh tim bẩm sinh nên rất cần sự chăm sóc của mẹ. Vì vậy, nghĩ nên giao cháu Tâm C cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp đảm bảo lợi ích của cháu Tâm C.
Bà H yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Hội đồng xét xử, xét thấy hiện cháu Tâm C bị bệnh tim bẩm sinh nên rất cần nhiều chi phí cho việc điều trị; hơn nữa ông H không đến Tòa án khước từ việc trình bày ý kiến của mình nên yêu cầu cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng là có căn cứ chấp nhận.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về án phí : bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình. Ông Nguyễn Trần H phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1/Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
2/ Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thúy H.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thúy H được ly hôn với ông Nguyễn Trần H.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thanh Tâm C (nam), sinh ngày 05/8/2015, cho bà Võ Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; ông Nguyễn Trần H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) cho đến khi cháu Tâm C đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Ông Nguyễn Trần H và bà Võ Thúy H được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.
Không bên nào được ngăn cản quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: ông bà không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
3/ Án phí : Bà Võ Thúy H nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình. Bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0023814 ngày 05/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.
Ông Nguyễn Trần H phải nộp 300.000 đồng án phí về cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai có mặt nguyên đơn, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận : -Tòa án Tỉnh; -VKS Tp.Phan Thiết; -Chi cục THADS Tp. Phan Thiết; - UBND P 02, q Tân Bình; -Đương sự; -Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Thanh Hòa |