vanban.org

Bản án 09/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Phạm Hồng L yêu cầu ly hôn, nuôi con chung với ông Nguyễn Văn H"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!THỚI!BÌNH! CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TỈNH!CÀ!MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 25-02-2019
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!THỚI!BÌNH,!TỈNH!CÀ!MAU!

- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Công Dịnh

2. Ông Hoàng Văn Vương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Trang là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Võ Hồng Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 558/2018/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2018 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Hồng L, sinh năm 1994 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp CSN, xã BBĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau

Tạm trú: Ấp A, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Cái Sắn Ngọn, xã BBĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!!

*Bà Phạm Hồng L trình bày:

Bà L và ông H tự nguyện chung sống như vợ chồng từ năm 2015 có đăng ký kết hôn tại UBND xã TP vào ngày 13/4/2015. Thời gian chung sống do bất đồng quan điểm

1

nên phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng ông bà đã ly thân từ tháng 3/2018 cho đến nay. Do cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L yêu cầu ly hôn với ông H.

Con chung tên Nguyễn Kim A, sinh ngày 09/12/2015 (giới tính nữ) hiện do bà L đang nuôi dạy. Khi ly hôn, bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Không có nên bà L không yêu cầu giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Thực hiện đúng các quy định của tố tụng dân sự; về nội dung vụ án thì các yêu cầu của bà L là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Phạm Hồng L khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là ông Nguyễn Văn H. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Ông H có nơi cư trú tại ấp CSN, xã BBĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có thông báo thụ lý và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và có tống đạt hợp lệ cho ông H nhưng ông H không có văn bản ý kiến đối với yêu cầu của bà L và vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử và có triệu tập xét xử hợp lệ nhưng ông H vắng mặt không có lí do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông H theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

[3] Về hôn nhân: Bà L và ông H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 13/4/2015. Tại đơn khởi kiện cũng như tại phiên tòa bà L cho rằng thời gian chung sống giữa ông bà xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng đã ly thân từ tháng 3/2018 cho đến nay nên bà L yêu cầu ly hôn với ông H. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông H đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan NH nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Thời gian chung sống do bất đồng quan điểm, đời sống

2

chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân giữa bà L và ông H không đạt được, ông bà đã được gia đình hòa giải đoàn tụ nhưng không tHnh, bà và ông H đã ly thân từ tháng 03/2018 cho đến nay. Xét thấy, trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để bà L và ông H có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do ông H vắng mặt tại các lần hòa giải, xét xử không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho bà L và ông H được ly hôn là phù hợp.

[4] Về con chung: Bà L và ông H có một người con chung là cháu Nguyễn Kim A, sinh ngày 09/12/2015 (giới tính nữ), hiện do bà L đang nuôi dạy, tại tòa bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu Kim A là nữ, rất cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ. Hơn nữa, từ trước đến nay cháu Kim A do bà L nuôi dạy nên cần để cho bà L tiếp tục nuôi dạy con chung, bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con, ông H không trực tiếp nuôi con có quyền thăm con theo quy định của pháp luật là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận.

[5] Về tài sản chung: Bà L xác định bà và ông H không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về nợ chung: Bà L xác định không có nợ chung, vợ chồng không có nợ người ngoài và người ngoài cũng không nợ vợ chồng nên không yêu cầu giải quyết. Tại đơn xác nhận ngày 10/12/2018 của Ủy ban nhân dân xã BBĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau và tại biên bản làm việc với người làm chứng ngày 15/01/2019 xác nhận vợ chồng bà L và ông H không có ai yêu cầu về nợ đối với vợ chồng bà L và ông H tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà L phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 56, Điều 81, 82,83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn H.

3

2. Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Hồng L về việc ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

2.1. Về hôn nhân: Bà Phạm Hồng L và ông Nguyễn Văn H được ly hôn.

2.2. Về con chung: Bà L được tiếp tục nuôi dạy con chung là Nguyễn Kim A, sinh ngày 09/12/2015 (giới tính nữ), ông H không cấp dưỡng nuôi con.

Ông H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.

2.3. Tài sản chung, nợ chung: Không có.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 11 tháng 12 năm 2018 bà L có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0005825 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, nay được chuyển thu án phí.

5.Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Cỡ chữ