vanban.org

Bản án 09/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về quan hệ hôn nhân: chị Phùng Thị H được ly hôn anh Bùi Minh T. Về con chung: giao cho chị Phùng Thị H tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Bùi Xuân Tr, sinh ngày 24/02/2016. Về cấp dưỡng nuôi con: không xem xét, giải quyết.. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "t/c HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2019/HNGĐ-ST
Ngày 19/4/2019
V/v "tranh chấp Hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thế Đăng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Xuân Hải

2. Ông Giáp Hồng Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sự - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, Bắc Giang.

- Đại diện VKSND huyện Tân Yên, Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2019/TLST-HNGĐ ngày 07/01/2019 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2019/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Phùng Thị H, sinh năm 1993 (có mặt)

Nơi ĐKHKTT: thôn Q, xã N, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

Nơi ở: thôn Đ, xã B, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang

- Bị đơn: anh Bùi Minh T, sinh năm 1993

(vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn Q, xã N, huyện Tân Yên, Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn xin ly hôn đề ngày 09/11/2018, bản tự khai và biên bản lấy lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Phùng Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: chị kết hôn với anh T ngày 06/11/2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N. Anh chị kết hôn tự nguyện, có tìm hiểu nhau trước khi kết hôn. Sau khi kết hôn anh chị về chung sống với gia đình nhà chồng tại thôn Q, xã N, huyện Tân Yên. Vợ chồng chung hạnh phúc được 06 tháng thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ mâu thuẫn giữa mẹ chồng với con dâu dẫn đến tình cảm vợ chồng dạn nứt, vợ chồng hay cãi nhau, đánh nhau. Anh T cũng không chịu làm ăn, ham chơi. Chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 7/2017, đồng thời vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, hai bên không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu được ly hôn anh Bùi Minh T.

- Về con chung: chị và anh T có 01 con chung là Bùi Xuân Tr, sinh ngày 24/02/2016. Hiện nay con chung đang ở với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con chung. Về cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Tại phiên toà hôm nay: chị giữ nguyên yêu cầu như đã trình bày.

* Đối với anh Bùi Minh T là bị đơn trong vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng tại các buổi hòa giải, làm việc của Tòa án anh T đều vắng mặt không có lý do và Tòa án đã thông báo cho anh T về các chứng cứ Tòa án đã thu thập có trong vụ án nhưng anh T không có ý kiến gì và không cung cấp cho Tòa án các tài liệu chứng cứ để thể hiện ý kiến của anh

Tại phiên tòa hôm nay anh Bùi Minh T vắng mặt.

* Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử đã đảm bảo theo quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Tòa án nhân dân huyện Tân Yên thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị Phùng Thị H với bị đơn là anh Bùi Minh T có nơi cư trú tại thôn Q, xã N, huyện Tân Yên là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về tố tụng: anh Bùi Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử để vắng mặt anh Bùi Minh T.

Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Phùng Thị H:

Chị Phùng Thị H và anh Bùi Minh T xác lập quan hệ hôn nhân là tự nguyện, hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã N ngày 06/11/2015 nên hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp. Qua xác minh ở địa phương, gia đình anh T cũng như phần trình bày của chị H tại Tòa án, Hội đồng xét xử xét thấy chị H và anh T sau khi về chung sống thì thời gian đầu chung sống hạnh phúc được 06 tháng, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh chị bất đồng quan điểm sống và trong việc làm ăn kinh tế, hay cãi nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay, hai bên không còn quan tâm đến nhau. Chị H xin ly hôn anh T thì gia đình không có ý kiến gì. Bản thân anh T đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không lên Tòa án làm việc, và có ý kiến xác định vợ chồng sống hay cãi nhau, nau chị H có đơn xin ly hôn anh xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phùng Thị H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: chị H và anh T có 01 con chung là cháu Bùi Xuân Trường, sinh ngày 24/02/2016. Hiện nay cháu đang ở với chị H. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu. Xét đề nghị và điều kiện kinh tế của chị H thấy: Hiện nay cháu Bùi Xuân Tr đang ở cùng chị H, phát triển bình thường, bản thân chị H có việc làm (spa) và thu nhập ổn định, có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung. Còn anh T không có yêu cầu đề nghị gì về việc nuôi con nên Hội đồng xét xử giao cháu Bùi Xuân Tr, sinh ngày 24/02/2016 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công sức đóng góp trong thời gian ở chung: chị H không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.

Về án phí: chị Phùng Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 56; khoản 3 Điều 81; khoản 3 Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Phùng Thị H được ly hôn anh Bùi Minh T.

2. Về con chung: giao cho chị Phùng Thị H tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Bùi Xuân Tr, sinh ngày 24/02/2016. Về cấp dưỡng nuôi con: không xem xét, giải quyết..

Anh Bùi Minh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền, nghĩa vụ này.

3. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công sức đóng góp trong thời gian ở chung: chị H không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: chị Phùng Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2017/0002304 ngày 07/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Yên. Xác nhận chị Phùng Thị H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án./.

Cỡ chữ