- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Mỹ H, xử cho chị Đỗ Thị Mỹ H được ly hôn anh Phạm Hồng D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2019/HNGĐ-ST Ngày: 21/6/2019 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG – TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Minh Yên
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Sùng Seo Chử
2.Bà Trương Thị Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông Giàng Mạnh Vàng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2019/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2019 về việc “Ly hôn”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Mỹ H, địa chỉ: Tổ dân phố số 2, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Anh Phạm Hồng D, địa chỉ: Thôn L, xã B, huyện M, tỉnh Lào Cai (vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 3 năm 2019 và bản tự khai nộp cho Tòa án, nguyên đơn chị Đỗ Thị Mỹ H trình bày: Chị và anh Phạm Hồng D tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 17/01/2019 tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện M, tỉnh Lào Cai theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu chung sống chị và anh D sống hòa thuận, hạnh phúc, đến tháng 02 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2019, không ai quan tâm đến ai. Mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã được hai bên gia đình nội, ngoại khuyên bảo động viên nhưng không hàn gắn được. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mường Khương giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Hồng D.
Về con chung và tài sản chung: Chị H và anh D không có con chung, không có tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai cũng như tại phiên hòa giải bị đơn anh Phạm Hồng D trình bày: Anh và chị Đỗ Thị Mỹ H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bản Lầu như chị Diệp trình bày. Thời gian đầu chung sống anh và chị H sống hòa thuận, hạnh phúc, đến tháng 02 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau. Anh và chị H đã sống ly thân từ tháng 02/2019. Chị H về ở nhà mẹ đẻ tại thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai, còn anh đang sinh sống tại thôn L, xã B, huyện M. Mâu thuẫn của anh chị đã được hai bên gia đình khuyên bảo động viên, nhưng tình cảm vợ chồng không hàn gắn được. Nay chị H làm đơn khởi kiện ly hôn, anh thấy vẫn còn tình cảm với chị H nên đề nghị vợ chồng quay về đoàn tụ. Trường hợp chị H cương quyết xin ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con và tài sản: Anh và chị H không có con chung, không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng chị H và anh D không thỏa thuận được với nhau. Tòa án đã triệu tập anh D đến tòa án nhiều lần nhưng anh D vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã chấp hành pháp luật đúng quy định của pháp luật, bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không chấp hành quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Mỹ H, xử cho chị H được ly hôn anh D, Tuyên án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Chị Đỗ Thị Mỹ H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Mường Khương giải quyết cho chị ly hôn với anh Phạm Hồng D. Anh D có hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã B, huyện M, tỉnh Lào Cai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về “Ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Đỗ Thị Mỹ H có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Phạm Hồng D vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[2] Về hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa chị Đỗ Thị Mỹ H và anh Phạm Hồng D là hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện M, tỉnh Lào Cai theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 03, ngày 17/01/2019. Mâu thuẫn giữa chị H và anh D là do vợ chồng không hợp nhau, dẫn đến trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra va chạm. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 02/2019, chị H đã về ở với mẹ đẻ tại thị trấn P, huyện B, còn anh D vẫn sống tại xã Bản Lầu, huyện Mường Khương. Mâu thuẫn của vợ chồng chị H và anh D đã được gia đình hòa giải nhưng không đạt được kết quả. Xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị H xin ly hôn với anh D là phù hợp. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 cần xử cho chị H được ly hôn anh D. Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh D chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
[3] Về con chung: Chị H và anh D không có con chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đỗ Thị Mỹ H và anh Phạm Hồng D không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Đỗ Thị Mỹ H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Mỹ H, xử cho chị Đỗ Thị Mỹ H được ly hôn anh Phạm Hồng D.
2. Về án phí: Chị Đỗ Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng (Ba tr m ngh n đ ng) án phí ly hôn. Xác nhận chị H đã nộp 300.000đ (Ba tr m ngh n đ ng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số AB/2012/0000313, ngày 19/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Lào Cai; -VKSND Huyện MK, VKSND tỉnh Lào Cai; -Chi cục THADS huyện Mường Khương; -Các đương sự; -UBND xã B; -Lưu HS, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lý Thị Minh Yên |