- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn H và N"
- Tòa quyết gì? 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƢƠNG TÀI TỈNHBẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2019/HNGĐ - ST Ngày: 10/4/2019 V/v: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƢƠNG TÀI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Minh Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Nguyễn Hữu Minh
Ông: Vũ Văn Vừng
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hoan - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài tham gia phiên tòa: Bà
Trần Thị Bình – Kiểm sát viên.
Ngày 10/4/2019, tại trụ sở Toà án nhân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2019/TLST - HNGĐ ngày 21/01/2019 về “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2019/QĐXX - ST, ngày 08/3/2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1990
Địa chỉ : Thôn TN, xã TL, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh (có mặt)
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1994
Địa chỉ: Thôn TN, xã TL, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản ghi lời khai có trong hồ sơ vụ án
anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị T thống nhất trình bày: Anh chị được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã TL, huyện Lương Tài,tỉnh Bắc Ninh từ ngày 12 tháng 11 năm 2013. Sau ngày cưới anh chị về chung sống với nhau ngay.
Mâu thuẫn vợ chồng theo anh H khai: Sau khi vợ chồng về chung sống thì có
xảy ra một vài bất đồng nhỏ trong cuộc sống nhưng cứ mỗi lần cãi nhau dù là nhỏ
1
thì chị T lại bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở mà không nói với anh và gia đình một lời nào cả. Đến tháng 5 năm 2016, khi chị T có thai thì giữa hai vợ chồng lại xảy ra to tiếng một chút nhưng chị T lại mang hết quần áo về nhà bố mẹ đẻ ở, khi anh đến đón thì chị T không về. Sự việc mâu thuẫn càng trở lên trầm trọng khi gia đình chị T cho rằng anh không quan tâm đến vợ. Khi chị T sinh con anh có đến thăm nhưng gia đình chị T và chị T kiên quyết không cho anh thăm và không cho anh nhận con. Kể từ tháng 5 năm 2016 cho đến nay thì hai vợ chồng không đoàn tụ lần nào. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã sống ly thân thời gian dài nên anh tha thiết xin được ly hôn với chị T.
Mâu thuẫn vợ chồng theo chị T trình bày: Nguyên nhân mâu thuẫn là do gia
đình anh H không H chị, ruồng rẫy chị, anh H là chồng nhưng lại bất lực không biết bảo vệ vợ khiến chị đang mang bầu tháng thứ 5 thì phải về nhà bố mẹ đẻ để ở. Khi chị sinh con thì anh H và gia đình không nhận con cũng không quan tâm gì đến chị và con. Nay anh H làm đơn xin ly hôn với chị chị cũng xác định tuy vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng không thể hàn gắn nhưng vì chị và anh H đều theo Đạo Thiên chúa, khi cưới anh chị đã có lời nguyện trước Chúa là chung sống bên nhau trọn đời nên chị không đồng ý ly hôn với anh H.
Về con chung: Anh H và chị T trình bày anh chị có 01 con chung là Nguyễn
Hoàng Phúc, sinh ngày 06/11/2016. Hiện tại con chung vẫn khỏe mạnh và phát triển bình thường và đang do chị T nuôi dưỡng. Khi ly hôn anh H đồng ý để chị T tiếp tục nuôi con, cấp dưỡng nuôi con anh tự nguyện đóng góp là 1.000.000 đồng/1 tháng. Chị T trình bày kể từ khi chị có bầu 5 tháng cho đến nay thì anh H không quan tâm gì đến chị và con, cũng không nhận con là con anh H. Chính vì vậy chị muốn anh H phải viết đơn cam kết là cháu Nguyễn Hoàng Phúc không phải là con của anh H.
Về tài sản: Anh H và chị T trình bày vợ chồng không có tài sản gì, không yêu
cầu Tòa án giải quyết khi ly hôn.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài
phát biểu quan điểm cho rằng: Việc Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, đúng thời hạn quy định của pháp luật. Việc Tòa án thu thập chứng cứ và ra các văn bản tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập H lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; Tòa án cũng đã yêu cầu bố mẹ đẻ chị T cung cấp địa chỉ của chị T cho Tòa án nhưng ông Long và bà Quyến không cung cấp địa chỉ của chị T nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
2
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài đề nghị HĐXX áp dụng
các Điều 147, 227, 228, 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn H được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.
Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Hoàng Phúc, sinh ngày 06/11/2016
cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con anh H có trách nhiệm đóng góp là 1.000.000đ/1 tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 4 năm 2019 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản: Anh H và chị T xác định vợ chồng không có tài sản gì nên không
đặt ra xem xét.
Về án phí: Anh Nguyễn Văn H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp
dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng
tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và lấy lời khai của chị T thì
chị T bỏ đi khỏi địa phương. Mặc dù đã được Tòa án triệu tập H lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không H tác làm việc với Tòa án. Tòa án cũng đã yêu cầu gia đình chị T cung cấp địa chỉ, tin tức của chị T nhưng gia đình mà không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của chị T nên đây được coi là trường H bị đơn cố tình dấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Mặt khác qua xác minh tại địa phương thì chị T vẫn có hộ khẩu thường trú tại địa phương, không cắt tạm trú đi nơi khác. Do vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị T là phù H với quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Tại phiên tòa hôm nay, anh Nguyễn Văn H vẫn giữ nguyên
yêu cầu xin được ly hôn với chị Nguyễn Thị T. Lời đề nghị của anh H qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy anh H và chị T kết hôn từ tháng 11 năm 2013, thủ tục kết hôn phù H luật định. Mâu thuẫn giữa anh H và chị T được xác định là do những bất đồng trong cuộc sống nên vợ chồng thường xảy ra va chạm, mặt khác do gia đình hai bên không hiểu nhau nhau dẫn đến hai bên lời qua tiếng lại, từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng giữa anh H và chị T lạnh nhạt dần. Vì mâu thuẫn nên anh
3
chị đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2016 đến nay. Mặc dù chị T xác định là do theo đạo thiên chúa nên chị không đồng ý ly hôn, nhưng cả anh H và chị T đều xác định là giữa hai vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng không thể hàn gắn, hơn nữa anh chị đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2016 cho đến nay. Mặt khác trong quá trình giải quyết vụ án, chị T không H tác với Tòa án nên Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ giữa hai anh chị được. Do đó, cần xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh H và chị T đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên cần xử cho anh H được ly hôn với chị T là phù H với quy định tại Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Anh H và chị T cùng xác định là có một con chung là
Nguyễn Hoàng Phúc, sinh ngày 06/11/2016, kể từ khi anh chị sống ly thân từ tháng 5 năm 2016 thì cháu Phúc do chị T nuôi dưỡng. Khi ly hôn thì chị T có nguyện vọng được tiếp tục nuôi cháu Phúc, anh H cũng nhất trí để chị T tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phúc. Do đó để đảm bảo điều kiện tốt nhất về mọi mặt của cháu Phúc thì cần căn Điều 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Phúc cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con, chị T không có yêu cầu gì, tuy nhiên anh H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng. Xét việc tự nguyện cấp dưỡng của anh H, cũng như xem xét mức thu nhập thực tế tại địa phương và để đảm bảo điều kiện chăm sóc con chung cần chấp nhận việc tự nguyện cấp dưỡng của anh H.
Về tài sản: Anh H và chị T xác định không có gì nên không đặt ra xem
xét.
Về án phí: Anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng
nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 147, 227, 228, 235, 264, 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều
51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
4
1. Về hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn H được ly hôn với chị Nguyễn Thị
T.
2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Hoàng Phúc, sinh ngày
06/11/2016 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con anh H có trách nhiệm đóng góp là 1.000.000đ/1 tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 4 năm 2019 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
2. Về án phí: Anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ
thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà anh đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001216 ngày 21/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Tài. Anh H còn phải nộp 300.000đ án phí.
Án xử công khai sơ thẩm báo cho anh Nguyễn Văn H được quyền làm đơn
kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể tử ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án (hoặc niêm yết bản án)./.
HTND
HTND
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Minh
Vũ Văn Vừng
Lƣơng Minh Phƣơng
5
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Lương Tài; - THADS huyện Lương Tài (khi án có hiệu lực PL); - Phòng KTNV TAND Tỉnh Bắc Ninh; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn;. - Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Hữu Minh Vũ Văn Vừng 6 7 8 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lƣơng Minh Phƣơng Lƣơng Minh Phƣơng |