- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xử cho N đơn chị Trần Thị Hoàng Q được ly hôn với bị đơn anh Hà Mộng X"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG-TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2019/HNGĐ-ST Ngày: 16/7/2019 “V/v: Ly hôn tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Lành;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Cảnh;
2. Ông Đỗ Thanh Bình.
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Sen là Thư ký Toà án nhân dân huyện KBang, tỉnh Gia Lai
Trong ngày 16/7/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kbang, Toà án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 99/2019/TLST-HNGĐ ngày 06/5/2019 về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 12/6/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2019/QĐST-HNGĐ ngày 01/7/2019. Giữa các đương sự:
- N đơn: Chị Trần Thị Hoàng Q, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Tổ 3, ấp T, xã Tân V, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Anh Hà Mộng X, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Thôn s, xã , huyện K, tỉnh Gia Lai.
Chị Q vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt) và bị đơn vắng mặt tại phiên tò mở lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
N đơn chị Trần Thị Hoàng Q trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Hà Mộng X qua thời gian quen biết tìm hiểu khoảng nửa tháng thì tự nguyện tiến đến hôn nhân. Anh, chị tự nguyện đến Uỷ ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Bình Định là nơi cư trú của chị để tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 23/12/2011. Có tiến hành tổ chức lễ cưới tại bên gia đình nhà chị tại xã Vĩnh Sơn.
Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, đến năm 2012 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nhỏ sau đó ngày càng trầm trọng hơn và không tự hòa giải được. N nhân chính là do vợ chồng không hợp tình tình nhau, không có sự tin tưởng và đùm bọc yêu thương nhau nên thường X xảy ra cãi vã khiến cho cuộc sống hôn nhân vợ chồng căng thẳng. Anh X không tôn trọng chị, thường X đánh đập, chưi bới, xúc phạm chị nên vào năm 2018 chị đã chuyển đến thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương sinh sống từ đó đến nay anh, chị sống ly thân với nhau. Nay chị xét thấy vợ chồng không còn yêu thương nhau, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa nên chị đề nghị Tòa giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hà Mộng X.
Về con chung: Anh, chị có 01 con chung tên Hà Trần Khôi N, sinh ngày 18/10/2012, sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng giao con cho anh X trực tiếp nuôi dưỡng con Khôi cho đến khi con trưởng thành, có khả năng lao động, vì lâu nay con N vẫn được anh X nuôi dưỡng, chăm sóc.
Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung, không có nợ chung và không cho ai mượn nợ nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Q vắng mặt tại phiên tòa nên không trình bày bổ sung quan điểm.
Bị đơn anh Hà Mộng X trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Trần Thị Hoàng Q quen biết tìm hiểu một thời gian khoảng nửa tháng thì tự nguyện đi đến hôn nhân. Anh, chị tự nguyện đến Uỷ ban nhân dân xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định để tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 23/12/2011. Có tiến hành tổ chức lễ cưới hỏi.
Quá trình chung sống với nhau, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống, nhưng chỉ là những mâu thuẫn nhỏ nhặt. N nhân chính xuất phát từ phía chị Q, do trong thời gian anh không có mặt tại gia đình chị Q đã thay đổi không còn quan tâm, yêu thương anh nữa nhưng anh chấp nhận bỏ qua hết những lỗi lầm của chị Q và anh vẫn còn tình cảm với chị Q nên anh không chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Q, đề nghị Tòa án cho vợ chồng anh được về đoàn tụ gia đình để cùng nuôi dạy con cái.
Về con chung: Anh, chị có 01 con chung tên Hà Trần Khôi N, sinh ngày 18/10/2012, hiện con đang ở với anh, nếu chị Q vân kiên quyết xin ly hôn thì anh có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con Khôi cho đến khi con trưởng thành, có khả năng lao động. Anh không yêu cầu chị Q phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng anh không có tài sản chung, không có nợ chung và không cho ai mượn nợ nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh X vắng mặt tại phiên tòa nên không trình bày bổ sung quan điểm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về tố tụng dân sự: N đơn chị Trần Thị Hoàng Q có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai giải quyết vụ án Hôn nhân & Gia đình giữa chị và anh Hà Mộng X. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
Về quan hệ hôn nhân: N đơn chị Trần Thị Hoàng Q và bị đơn anh Hà Mộng X tự nguyện tiến đến hôn nhân tiến trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Bình Định vào ngày 23/12/2011, nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống với nhau, giữa anh chị đã xảy ra mâu thuẫn và kéo dài từ năm 2012 cho đến nay. Chị Q và anh X đều trình bày quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, chị Q trình bày N nhân dẫn đến phát sinh mâu thuẫn, chủ yếu là do anh chị không hợp tính tình nhau, không có sự đồng cảm với nhau, nên vợ chồng thường X cãi vã qua lại, anh X không tôn trọng chị. Anh X thì cho rằng vợ chồng chỉ có mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt hằng ngày của gia đình, cãi vã qua lại rồi lại lo làm ăn, chứ không đến mức trầm trọng. Nay vì con nên anh xin được đoàn tụ gia đình.
Hôn nhân của chị Q và anh X, mặc dù thời gian chung sống với nhau không dài, nhưng anh, chị thường X để xảy ra cãi vã và hiện đang đã không còn chung sống với nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã khuyên giải vợ chồng về đoàn tụ gia đình, nhưng chị Q vẫn kiên quyết xin ly hôn nên việc hòa giải đoàn tụ không đạt kết quả. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Q và anh X đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân là vợ chồng chung sống hạnh phúc, cùng nhau xây dựng gia đình đã không đạt được, nên HĐXX cần căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân & Gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Q. Xử cho chị Trần Thị Hoàng Q được ly hôn với anh Hà Mộng X.
]3] Về con chung, tài sản chung và nợ chung:
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Hà Trần Khôi N, sinh ngày 18/10/2012. Sau khi ly hôn, chị Q và anh X đều có nguyện vọng giao con cho anh X trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con Khôi cho đến khi con trưởng thành, có khả năng lao động.
Xét về khả năng và điều kiện của người trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con và nguyện vọng của con thì thấy rằng: Chị Q và anh X đều có điều kiện về mọi mặt, đảm bảo cho việc nuôi dạy con. Cháu N có nguyện vọng được anh X trực tiếp nuôi dưỡng. HĐXX xét cần chấp nhận theo nguyện vọng của của hai đương sự và cháu Khôi để giao cháu Khôi cho anh X được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu N cho đến khi cháu trưởng thành, có khả năng lao động.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con N, do anh X không yêu cầu chị Q phải cấp dưỡng nuôi con. Do vậy, HĐXX xét cần chấp nhận theo sự tự nguyện của anh X, nên chị Q không phải cấp dưỡng nuôi cháu N.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Q và anh X không có tài sản chung, không có nợ chung và không cho ai mượn nợ đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, HĐXX không xem xét giải quyết đến phần anh, chị không yêu cầu.
Về án phí: N đơn chị Trần Thị Hoàng Q phải chịu theo quy định là 300.000 đồng án phí Ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ các Điều 144, 147, 227, 228, 238, 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N đơn chị Trần Thị Hoàng Q.
Xử cho N đơn chị Trần Thị Hoàng Q được ly hôn với bị đơn anh Hà Mộng X.
2. Về con chung:
Giao cháu Hà Trần Khôi N, sinh ngày 18/10/2012 cho anh Hà Mộng X được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu N cho đến khi cháu trưởng thành, có khả năng lao động. Do anh X không yêu cầu nên chị Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi dưỡng con vẫn có quyền đến thăm nom con, người trực tiếp nuôi con không được cản trở nếu họ không lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích của con, trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Hai đương sự đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí:
N đơn chị Trần Thị Hoàng Q phải chịu theo quy định là 300.000 đồng án phí Ly hôn sơ thẩm (LHST), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Q đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số: 0006877 ngày 06/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kbang, chị Q đã nộp đủ án phí Ly hôn sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm./.
| Nơi nhận: -TA tỉnh; -VKS Kbang; -THA Kbang; -Các đương sự; -UBND cấp xã nơi ĐKKH; -Lưu HSVA,VPTA. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐỖ THỊ LÀNH THẨM PHÁN-CTPT ĐỖ THỊ LÀNH |