vanban.org

Bản án 09/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Đàm Thanh U được ly hôn với ông Đào Chiến T.

Về nuôi con chung: Giao con chung Đào Thiên A, sinh ngày 05/01/2012 cho bà Đàm Thanh U trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Giao con chung Đào Hoàng H, sinh ngày 01/5/2008 cho ông Đào Chiến T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung Ông T và bà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Đàm Thanh U xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Đàm Thanh U được ly hôn với ông Đào Chiến T.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 luật Hoân nhân & Gia ñình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA SÚP
TỈNH ĐĂKLĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/ 2019/HNGĐ-ST.
Ngày: 06/8/2019.
V/v: “Tranh chấp hôn nhân và
gia đình”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA SÚP, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thành Huế.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Quán.

2. Ông Bành Trọng Bình.

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Hiệt – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp tham gia phiên tòa: Ông Trần Dương Công– Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2019, tại Hội trường Toà án nhân dân huyện Ea Súp mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 48/2019/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2019 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2019/QĐXX-ST ngày 03 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2019 ngày 19/7/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyeân ñôn: Bà Đàm Thanh U, sinh năm 1982. (Có mặt)

2. Bò ñôn: Ông Đào Chiến T, sinh năm 1982. (Vắng mặt lần thứ 2)

Cùng trú tại: Thôn A, xã I, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện; Bản tự khai và biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đàm Thanh U trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đàm Thanh U và ông Đào Chiến T chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại UBND xã I, huyện E, tỉnh Đăk Lắk vào ngày 26/8/2009, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc.

Trong quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì đến năm 2017 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình quan điểm sống không hợp nhau, vợ chồng không có sự quan tâm chia sẻ trong cuộc sống, nên dẫn đến vợ chồng hay xảy ra cãi vã, ông T thường xuyên uống rượu say về đánh đập bà U. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2017 cho đến nay. Nay mâu thuẫn đã qua trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm nữa, không thể chung sống với nhau được nữa nên bà U xin được ly hôn với ông T

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Đào Hoàng H, sinh ngày 01/5/2008 và Đào Thiên A, sinh ngày 05/01/2012. Bà U có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi cháu Đào Thiên A cho đến tuổi trưởng thành. Còn giao cháu Đào Hoàng H cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và công nợ: Bà U tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai và biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải bị đơn bị đơn ông Đào Chiến T trình bày có trong hồ sơ:

Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà U tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn như lời trình bày của của bà U là đúng, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình quan điểm không hợp nhau, vợ chồng xảy ra cãi vã và sống ly thân với nhau từ đó, vợ chồng sống ai biết bổn phận người đó, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Ông T thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng để dẫn đến ly hôn, ông T vẫn còn tình cảm với bà U nên ông T muốn gia đình đoàn tụ để nuôi dạy con cái. Vì vậy ông T không đồng ý ly hôn với bà U.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung như bà U trình bày là đúng. Nếu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn với nhau thì nguyện vọng của ông T xin được nuôi dưỡng cháu H và cháu A cho đến tuổi trưởng thành. Không yêu cầu bà U phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và công nợ: Nếu Tòa giải quyết ly hôn thì về tài sản chung và công nợ ông T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ kiện, Tòa án huyện Ea Súp đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của ông T và bà U khi sinh sống tại thôn A, xã I, huyện E, tỉnh Đăk Lăk. Qua xác minh tại địa phương thì được biết ông T và bà U phát sinh mâu thuẫn từ năm 2017, vợ chồng hay cãi vã nhau lẫn nhau và vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay.

Quá trình giải quyết vụ án, các lần hòa giải các bên đương sự không thỏa thuận được toàn bộ nội dung vụ án vì vậy Tòa án nhân dân huyện Ea Súp đưa vụ án ra xét xử.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, của đương sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Sau khi thụ lý vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng. Ra quyết định xét xử, tống đạt hợp lệ quyết định xét xử và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Đối với các đương sự, nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của, trong quá trình giải quyết vụ án thì bị đơn chấp hành nhưng tại phiên tòa bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa.

Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà U.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng công khai trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện, ý kiến của kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Vụ kiện giữa nguyên đơn bà Đàm Thanh U và bị đơn ông Đào Chiến T là vụ kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Bị đơn ông T mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông T.

Về quan hệ hôn nhân: Tòa án nhận thấy bà Đàm Thanh U và ông Đào Chiến T kết hôn trên cơ sở tình yêu và tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại Uỷ ban nhân dân xã I, huyện E, tỉnh Đăk Lắk vào ngày 26/8/2009 theo quy định của pháp luật, nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống, do bất đồng về quan điểm sống, lối sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, mâu thuẫn của vợ chồng đã kéo dài từ năm 2017 cho đến nay và tình cảm vợ chồng không hàn gắn được. Bà U kiên quyết yêu cầu ly hôn với ông T. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa ông T và bà U đã trầm trọng, vợ chồng sống ly thân với nhau một thời gian dài, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu cứ kéo dài hôn nhân của các bên cũng không thể mang lại hạnh phúc cho nhau. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 luật Hoân nhân & Gia ñình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Út, xử cho bà U được ly hôn với ông T là phù hợp.

Về con chung: Ông T và bà U thống nhất có một con chung là Đào Hoàng H, sinh ngày 01/5/2008 và Đào Thiên A, sinh ngày 05/01/2012. Trong quá trình giải quyết vụ án bà U xin được nuôi cháu A còn giao cháu H cho ông T nuôi. Đối với ông T có nguyện vọng nuôi cả hai con chung.

Để đảm bảo ổn định cuộc sống và các điều kiện phát triển tinh thần của các cháu H và A. Giữa bà U và ông T không thống nhất được về việc nuôi con khi ly hôn. Tòa án nhận thấy cả hai đều có đủ điều kiện nuôi con, sau khi xem xét nguyện vọng của các cháu. Tòa án thấy cần chấp nhận nguyện vọng của bà U là có là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình và điều kiện thực tế.

Về cấp dưỡng nuôi con: Các bên không có yêu cầu nên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản và nợ: Ông T và bà U xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết. Tòa án chấp nhận và không đặt ra giải quyết trong vụ án này về phần chia tài sản và phần nợ. Tuy nhiên, nếu sau này giữa có phát sinh tranh chấp về chia tài sản và nợ mà không tự thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.

Về án phí hôn nhân và gia đình: Ông T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà U phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoaûn 1 Ñieàu 28; ñieåm a khoaûn 1 Ñieàu 35; khoản 4 Điều 147, Ñieàu 203 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luaät Hoân nhaân & Gia đình; Khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Đàm Thanh U được ly hôn với ông Đào Chiến T.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung Đào Thiên A, sinh ngày 05/01/2012 cho bà Đàm Thanh U trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Giao con chung Đào Hoàng H, sinh ngày 01/5/2008 cho ông Đào Chiến T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung

Ông T và bà U được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở ông T và bà U thực hiện quyền này.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

5. Về án phí: Bà Đàm Thanh U phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà U đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện E, tỉnh Đắk Lắk theo biên lai thu số 0012535 ngày 19/3/2019.

- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Cỡ chữ