- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đ - L"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Dư ng Thị Đ được ly hôn anh Đỗ Ngọc L.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2019/HNGĐ – ST Ngày 31 - 7 - 2019 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quang Thái.
Bà Lê Thị Bích Thuần.
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thành – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2019 tại trụ s Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, t nh V nh húc t s thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2019/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 3 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo quyết định đưa vụ án ra t số: 28/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2019 giữa các đư ng sự:
- Nguyên đơn: Chị Dư ng Thị Đ, sinh năm 1982; địa ch : Tổ dân phố C, thị trấn T, huyện B, t nh V nh húc, “có mặt”.
- Bị đơn: Anh Đỗ Ngọc L, sinh năm 1977; địa ch : Tổ dân phố C, thị trấn T, huyện Bình Xuyên, t nh V nh húc, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đ n kh i kiện đề ngày 20 tháng 02 năm 2019 và những lời khai tiếp theo trong quá trình làm việc cũng như tại phiên tòa, nguyên đ n chị Dư ng Thị Đ trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Đỗ Ngọc L kết hôn ngày 11 tháng 02 năm 2006, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện Bình Xuyên, t nh V nh húc trên c s tự nguyện của cả hai bên. Sau đó, chị về làm dâu và chung sống cùng gia đình anh L tổ dân phố C, thị trấn T, huyện B, t nh V nh húc được một thời gian thì anh chị ra riêng nhưng vẫn nhờ trên nhà đất của bố mẹ chồng. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng anh chị vẫn hòa thuận, bình thường. Đến năm 2015 thì anh, chị phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng cãi nhau thường uyên. Nguyên nhân là do, anh L không ch n chu làm ăn, ch i bời, cờ bạc, không quan tâm, chăm sóc gia đình; anh L đã bỏ đi làm ăn, thi thoảng mới về thăm gia đình; chị đã nhiều lần khuyên nhủ anh L tu trí làm ăn để vợ chồng cùng nhau ây dựng kinh tế, nuôi dạy các con trư ng thành nhưng anh L đều không đồng ý dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng h n. Từ năm 2015 đến nay vợ chồng chị đã ly thân, không quan tâm, chăm sóc đến nhau. Đến nay chị ác định tình cảm với anh L không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, chị tha thiết in được ly hôn anh L.
Về nuôi con chung: Vợ chồng chị có ba con chung là các cháu Đỗ Thị Xuân M, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2006; Đỗ Anh T, sinh ngày 10 tháng 7 năm 2008 và Đỗ Khánh D, sinh ngày 25 tháng 02 năm 2010. Hiện nay, các cháu vẫn đang sống cùng chị. Ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả ba cháu; chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Đối với bị đ n anh Đỗ Ngọc L: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã g i, niêm yết công khai Thông báo thụ lý vụ án, bản sao đ n kh i kiện và các tài liệu giấy tờ kèm theo đồng thời triệu tập anh L rất nhiều lần; thậm chí để vụ án được giải quyết một cách đầy đủ, toàn diện, khách quan và đảm bảo quyền lợi của các bên đư ng sự Tòa án đã g i công văn nêu rõ nội dung vụ án để anh L đến Tòa trực tiếp trình bày ý kiến của mình về từng vấn đề, nội dung cụ thể theo đ n kh i kiện của nguyên đ n là chị Đ. Anh L đã được biết về việc này và nhận đầy đủ những giấy tờ trên, nhưng anh L không đến Tòa án làm việc và cũng không g i văn bản thể hiện ý kiến của mình đến Tòa án.
Ngày 24 tháng 5 năm 2019, Tòa án tiến hành ác minh tại Ủy ban nhân dân thị trấn T cho biết: Anh Đỗ Ngọc L và chị Dư ng Thị Đ có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện B, t nh V nh húc vào ngày 11 tháng 02 năm 2006. Sau khi kết hôn vợ chồng anh Đ và chị L chung sống cùng nhà anh L tổ dân phố C, thị trấn T, huyện B, t nh V nh húc. Quá trình chung sống, địa phư ng thấy vợ chồng anh chị sống hòa thuận, khoảng năm 2015 vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn, thường uyên to tiếng cãi ch i nhau; sau đó, địa phư ng được biết anh L có đi làm ăn a thi thoảng lễ, tết hoặc gia đình có công việc thì anh L mới về thăm nhà được ít ngày rồi lại đi. Còn nguyên nhân vợ chồng anh chị mâu thuẫn là do đâu thì địa phư ng cũng không nắm rõ được.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng và của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng t , Thư ký phiên tòa đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và t vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định; người tham gia tố tụng chị Đ đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, anh L được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai vẫn vắng mặt.
Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng t cho chị Dư ng Thị Đ được ly hôn anh Đỗ Ngọc L; giao các con chung là các cháu Đỗ Thị Xuân M, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2006; Đỗ Anh T, sinh ngày 10 tháng 7 năm 2008 và Đỗ Khánh D, sinh ngày 25 tháng 02 năm 2010 cho chị Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Đ vì chị Đ không yêu cầu; về chia tài sản các đư ng sự không yêu cầu nên không em t. Chị Đ phải chịu án phí ly hôn s thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ s vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng t nhận định:
Về tố tụng: Chị Dư ng Thị Đ kh i kiện in ly hôn anh Đỗ Ngọc L và đề nghị được nuôi dưỡng con chung, do đó đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đ n anh L hiện đang thường trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn T, huyện B, t nh V nh húc, theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên. Bị đ n đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng cố tình vắng mặt tại phiên tòa, vì vậy Toà án vẫn tiến hành t vắng mặt bị đ n theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình tiến hành tố tụng mặc dù bị đ n là anh Đỗ Ngọc L đã biết việc Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình do nguyên đ n là chị Dư ng Thị Đ kh i kiện nhưng không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, cố tình vắng mặt nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai của bị đ n cũng như tiến hành tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được. Việc anh L cố tình vắng mặt đồng ngh a với việc đã từ bỏ quyền và ngh a vụ của đư ng sự trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào biên bản ác minh ngày 24 tháng 5 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện B và lời khai của chị Dư ng Thị Đ thể hiện chị Dư ng Thị Đ và anh Đỗ Ngọc L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện B ngày 11 tháng 02 năm 2006, vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Đ và anh L là hợp pháp. Quá trình chung sống do bất đồng quan điểm, anh L không tu chí làm ăn ngày nên phát sinh mâu thuẫn từ năm 2015. Trong những lần làm việc tại Toà án và tại phiên toà chị Đ đều khẳng định tình cảm vợ chồng với anh L không còn, việc đoàn tụ là không thể, chị vẫn đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L, nếu Toà án không cho chị ly hôn với anh L chị cũng không thể về đoàn tụ với anh L được. Quá trình giải quyết vụ án, anh L đã nhiều lần nhận được giấy triệu tập, công văn của Tòa án, nội dung Công văn nêu rõ “Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản này, nếu anh L không đến Tòa án làm việc và không có ý kiến gì thì coi như anh đã đồng ý toàn bộ nội dung mà nguyên đ n kh i kiện và Tòa án sẽ chấp nhận toàn bộ yêu cầu kh i kiện của nguyên đ n” nhưng anh L vẫn không đến Tòa án làm việc hay g i văn bản nêu rõ ý kiến, quan điểm của mình, như vậy có thể hiểu rằng anh L đã đồng ý với toàn bộ nội dung mà nguyên đ n kh i kiện. X t, cuộc sống chung giữa chị Đ và anh L không thể tiếp tục vì anh, chị không còn yêu thư ng, chăm sóc nhau, không cùng nhau ây dựng hạnh phúc gia đình theo qui định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị Đ và anh L là trầm trọng, đời sống chung không thể k o dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu in ly hôn của chị Đ.
Về nuôi con chung: Chị Đ và anh L có ba con chung là các cháu Đỗ Thị Xuân M, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2006; Đỗ Anh T, sinh ngày 10 tháng 7 năm 2008 và Đỗ Khánh D, sinh ngày 25 tháng 02 năm 2010. Kể từ khi vợ chồng ly thân đến nay, cả ba cháu vẫn sống cùng chị Đ. Quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa chị Đ tha thiết in được nuôi ba cháu và chứng minh nuôi con tốt về mọi mặt và đây cũng là nguyện vọng của cả ba cháu đều in được với mẹ, do vậy cần giao cả ba cháu cho chị Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn; anh L không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị Đ vì chị Đ không yêu cầu nhưng có quyền và ngh a vụ thăm nom con mà không ai được cản tr . Trong thời gian chị Đ chăm sóc nuôi dưỡng cả ba cháu mà không đảm bảo được cuộc sống cho cháu thì anh L có quyền làm đ n đề nghị thay đổi về người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản: Chị Đ không đề nghị Tòa án giải quyết, anh L vắng mặt và cũng không đề nghị do đó Tòa án không t. Sau khi ly hôn, nếu các đư ng sự có đề nghị về tài sản thì Tòa án giải quyết bằng vụ án khác theo qui định của pháp luật.
Về án phí s thẩm: Chị Đ phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đư ng sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Chị Dư ng Thị Đ được ly hôn anh Đỗ Ngọc L.
Về nuôi con chung: Giao các cháu Đỗ Thị Xuân M, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2006; Đỗ Anh T, sinh ngày 10 tháng 7 năm 2008 và Đỗ Khánh D, sinh ngày 25 tháng 02 năm 2010 cho chị Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Đ nhưng có quyền, ngh a vụ thăm nom con mà không ai được cản tr , gây khó khăn.
Về án phí: Chị Dư ng Thị Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn s thẩm, được trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2017/0003325 ngày 11 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên; chị Đ đã nộp đủ án phí ly hôn s thẩm.
Đư ng sự có mặt có quyền làm đ n kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đư ng sự vắng mặt cũng có quyền làm đ n kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày tống đạt hợp lệ./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đư ng sự; - VKSND huyện Bình Xuyên; - Chi cục THADS huyện Bình Xuyên; - Các đư ng sự; - Lưu: HS, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Lan |