- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa Vừ Y X với anh Lỳ Bá C"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Vừ Y X và anh Lỳ Bá C là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn và nhân gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
| TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2019/HNGĐ-ST Ngày 28 tháng 3 năm 2019 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Moong Văn Bình
2. Bà Moong Thị Thắm
- Thư ký phiên tòa: Ông Già Bá Lầu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Xeo Văn Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 29/2018/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp Ly hôn theo Thông báo mở lại phiên tòa đưa vụ án ra xét xử số 01/2019/QĐXX-ST ngày 10 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vừ Y X, sinh năm 1984; Địa chỉ: bản T, xã N, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Lỳ Bá C, sinh năm 1975; NĐKHKTT: bản bản T, xã N, huyện KS, tỉnh Nghệ An (Hiện tập trung cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Lao động giáo dục và xã hội huyện KS, tỉnh Nghệ An). Vắng mặt.
3. Người phiên dịch: Anh Lầu Bá C, sinh năm 1997; Trú tại bản bản S, xã C, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 12 năm 2018 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án thì nguyên đơn chị Vừ Y X trình bày: Chị và anh Lỳ Bá C chung sống với nhau như vợ chồng và tổ chức cưới từ năm 2011 nhưng không đăng ký kết hôn, thời gian đầu hai bên chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2014, chị Vừ Y X phát hiện anh Lỳ Bá C nghiện ma túy, từ đó anh Lỳ Bá C thường xuyên đánh đập, hành hạ, không quan tâm, không chăm lo gia đình, anh Lỳ Bá C đã đi cai nghiện nhưng không thành công, nay lại đang tiếp tục cai nghiện tại Trung tâm Lao động giáo dục và xã hội huyện KS, thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau được nữa vì vậy chị Vừ Y X khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Lỳ Bá C.
Về con: Vợ chồng có 01 con chung, tên là Lỳ Y H; sinh ngày 05/01/2013 và hai con riêng của chị Vừ Y X là các cháu Lầu Y Ch, sinh ngày 07 /5/2003 và cháu Lỳ Y Đ, sinh ngày 15/02/2006. Nay các cháu đều đang ở với chị Vừ Y X, nếu có ly hôn thì chị Vừ Y X xin nuôi các cháu và không yêu cầu anh Lỳ Bá C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản gì đáng giá nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phía bị đơn anh Lỳ Bá C trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay vắng mặt do đang cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Lao động giáo dục và xã hội huyện KS. Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của anh Lỳ Bá C, anh Lỳ Bá C trình bày: Anh và chị Vừ Y X cưới nhau từ năm 2011 nhưng không đăng ký kết hôn, sau khi cưới, vợ chồng sống hạnh phúc. Hiện tại anh có nghiện chất ma túy và đã đi cai nghiện nhưng không thành công, nay lại đang tiếp tục cai nghiện tại trung tâm Lao động giáo dục và xã hội huyện KS. Anh thấy rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn nên không đồng ý ly hôn với chị Vừ Y X. Về con, vợ chồng có 01 con chung tên là Lỳ Y H và có hai con riêng của vợ là các cháu Lầu Y Ch, Lỳ Y Đ như chị Vừ Y X đã khai. Do anh không đồng ý ly hôn nên về trách nhiệm nuôi con anh không có ý kiến. Về tài sản anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Như vậy hai bên đã thống nhất được các vấn đề gồm: Thời gian và điều kiện kết hôn, tình trạng con chung, con riêng, thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết phần tài sản.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu;
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội dồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn tuy vắng mặt nhưng đã có biên bản lấy lời khai nên đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận chị Vừ Y X và anh Lỳ Bá C là vợ chồng; về con: do anh Lỳ Bá C đang cai nghiện tại Trung tâm Lao động, giáo dục và xã hội huyện KS nên giao các cháu Lầu Y Ch, sinh ngày 07/5/2003, cháu Lỳ Y Đ, sinh ngày 15/02/2006 và cháu Lỳ Y H, sinh ngày 05/01/2013 cho chị Vừ Y X trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Lỳ Bá C; Về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở đánh giá khách quan các chứng cứ tài liệu và các tình tiết trong vụ án, căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tố tụng: Chị Vừ Y X yêu cầu ly hôn với anh Lỳ Bá C có hộ khẩu thường trú tại bản T, xã N, huyện KS, tỉnh Nghệ An, nên căn cứ theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
Bị đơn anh Lỳ Bá C hiện đang tập trung cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Lao động, giáo dục và xã hội huyện KS nên không thể có mặt tại phiên tòa. Tòa án đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cần thiết cho anh Lỳ Bá C và tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về hôn nhân: Chị Vừ Y X và anh Lỳ Bá C tổ chức đám cưới và sống với nhau trên cơ sở tự nguyện từ năm 2011, nhưng không đăng ký kết hôn, theo quy định của pháp luật thì hai bên đã đủ điều kiện để đăng ký kết hôn nhưng đến thời điểm xin ly hôn giữa chị Vừ Y X và anh Lỳ Bá C vẫn không đăng ký kết hôn do đó trong mỗi quan hệ giữa Vừ Y X và anh Lỳ Bá C không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Nay có bên yêu cầu ly hôn, Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 14, Điều 15 khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Vừ Y X và anh Lỳ Bá C.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên là Lỳ Y H (sinh ngày 05/01/2013) và hai con riêng của Vừ Y X là các cháu Lầu Y Ch (sinh ngày 07/5/2003), Lỳ Y Đ (sinh ngày 15/02/2006). Nay anh Lỳ Bá C đang cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Lao động, giáo dục và xã hội huyện KS nên không có khả năng và điều kiện để nuôi con, chị Vừ Y X yêu cầu được nuôi các con. Để đảm bảo quyền lợi và khả năng phát triển bình thường của các cháu, cần giao các cháu cho chị Vừ Y X trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Lỳ Bá C.
Về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân gia đình, Chị Vừ Y X là nguyên đơn nên đáng ra phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, tuy nhiên do chị Vừ Y X là cá nhân thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời gian luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 79, 81, 82, 83 Luật Hôn và nhân gia đình năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự: Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Vừ Y X và anh Lỳ Bá C là vợ chồng. Buộc chị Vừ Y X và anh Lỳ Bá C chấm dứt việc chung sống với nhau như vợ chồng.
2. Về con cái: Giao con chung là cháu Lỳ Y H (sinh ngày 05/01/2013) và hai con riêng của chị Vừ Y X là các cháu Lầu Y Ch (sinh ngày 07/5/2003), Lỳ Y Đ (sinh ngày 15/02/2006) cho chị Vừ Y X trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Lỳ Bá C.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con, người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Vừ Y X.
5. Về quyền kháng cáo: Tuyên bố nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tóa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Kỳ Sơn; - Các đương sự; - Chi cục THADS huyện Kỳ Sơn; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP/TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Hữu Lộc |