- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "anh Bàn Văn Nh, chị Đặng Thị Đ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Bàn Văn Nh.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2019/HNGĐ- ST Ngày: 21/8/2019 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI.
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thọ
Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Nông Thị Nhung
+ Bà Nguyễn Thị Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2019. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 49/2019/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 5 năm 2019 về “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXX- ST, ngày 17 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2019/QĐST- HNGĐ, ngày 02/8/2019 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Anh Bàn Văn Nh - sinh năm:1992. Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt.
2.Bị đơn:Chị Đặng Thị Đ - sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn ngày 10/5/2019 và bản tự khai tiếp theo nguyên đơn anh Bàn Văn Nh trình bày: Anh về chung sống với chị Đặng Thị Đ từ năm 2010 là hoàn toàn tự nguyện, đến ngày 02/01/2013 anh chị đã đi đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện B. Trong thời gian sống chung anh chị sống hòa thuận, hạnh phúc không có mâu thuẫn gì. Đến tháng 02/2016 không biết vì lý do gì chị Đ bỏ nhà đi khỏi địa phương từ đó cho đến nay không có tin tức gì và mất tích từ đó đến nay không về nhà. Anh và gia đình đã đi tìm nhiều nơi nhưng vẫn không có tin tức. Anh Bàn Văn Nh đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc tuyên bố chị Đặng Thị Đ mất tích và đã được Tòa án giải quyết. Tại quyết định số 01/2019/QĐST- VDS, ngày 25 tháng 4 năm 2019 Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà đã tuyên bố chị Đặng Thị Đ mất tích. Nay anh Nh xét thấy tình cảm không còn, để đảm bảo cuộc sống sau này của anh đi xây dựng gia đình mới, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đặng Thị Đ.
VÒ con chung: Quá trình chung sống giữa anh Nh và chị Đ có 02 con chung, cháu lới tên là: Bàn Ánh T, sinh ngày 12/02/2011, cháu nhỏ tên là Bàn Tuấn D, sinh ngày 21/01/2013. Hiện nay cả hai cháu đang sống cùng với anh Nh. Nguyện vọng của anh Nh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng các cháu đủ 18 tuổi, anh không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản và các khoản nợ: Trong thời gian sống chung giữa anh Nh và chị Đ không có tài sản chung gì và không vay nợ của ai, nên anh Nh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Đặng Thị Đ, sinh năm 1994. Nơi cư trú cuối cùng: thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai đã bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai tuyên bố mất tích theo Quyết định số: 01/2019/QĐST- VDS, ngày 25/4/2019.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà phát biểu ý kiến như sau:
+ Về Tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xây dựng hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa hôn nay, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của phiên tòa sơ thẩm, không vi phạm thủ tục tố tụng.
+ Về hướng giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Xét yêu cầu của anh Bàn Văn Nh và những tài liệu chứng cứ nguyên đơn đã giao, nộp cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. Anh Bàn Văn Nh và chị Đặng Thị Đ kết hôn và chung sống với nhau từ năm 2013. Đến tháng 02/2016 không biết vì lý do gì chị Đ đã bỏ nhà đi khỏi địa phương và Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai đã tuyên bố chị Đ mất tích, để đảm bảo cuộc sống sau này anh Bàn Văn Nh đã làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị Đặng Thị Đ. Theo khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “ Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”. Vì vậy, đề nghị Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện của anh Bàn Văn Nh giải quyết ly hôn với chị Đặng Thị Đ.
Về con chung: Anh Nh và chị Đ có 02 con chung, cháu lới tên là: Bàn Ánh T, sinh ngày 12/02/201, cháu nhỏ tên là Bàn Tuấn D, sinh ngày 21/01/2013. Căn cứ vào Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình tiếp tục giao cháu T và cháu D cho anh Nh chăm sóc và nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản và khoản nợ: không đề nghị giải quyết.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
Tại phiên tòa sơ thẩm anh Bàn Văn Nh vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn chị Đặng Thị Đ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết thông báo thụ lý cho bị đơn chị Đặng Thị Đ theo quy định tại Điều 196 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã ra thông báo phiên họp, tiết cận công khai chứng cứ và hòa giải đã niêm yết tại nơi cư trú và trụ sở UBND xã N, huyện B nơi chị Đ cư trú trước đây; niêm yết thông báo hoãn phiên họp việc kiểm tra việc giao nộp,tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; niêm yết thông báo kết quả phiên họp công khai chứng cứ theo quy định tại Điều 209 và Điều 210 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử, tại phiên tòa bị đơn vắng mặt không có lý do, nên đã ra quyết định hoãn phiên tòa và ấn định ngày xét xử. Tiến hành niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định. Tại phiên tòa hôm nay chị Đ vẫn không có mặt, nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Bàn Văn Nh và chị Đặng Thị Đ về chung sống với nhau từ năm 2010. Đến ngày 02/01/2013 anh chị mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện B. Trong quá trình chung sống anh chị sống hòa thuận hạnh phúc, không biết vì lý do gì chị Đ bỏ nhà đi khỏi địa phương từ tháng 02 năm 2016 và mất tích từ đó đến nay không về nhà. Anh Bàn Văn Nh đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc tuyên bố chị Đặng Thị Đ mất tích. Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai đã ra Quyết định số: 01/2019/QĐST- VDS, ngày 25/4/2019 tuyên bố chị Đặng Thị Đ mất tích. Ngày 10/5/2019 anh Nh làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh đựơc ly hôn với chị Đ. Xét việc yêu cầu xin ly hôn của anh Nh là có cơ sở, phù hợi với quy định của khoản 2 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận giải quyết theo yêu cầu của anh Nh.
Về nuôi con khi ly hôn: Quá trình chung sống giữa anh Nh và chị Đ có 02 con chung. Cháu lới tên là: Bàn Ánh T, sinh ngày 12/02/2011, cháu nhỏ tên là Bàn Tuấn D, sinh ngày 21/01/2013. Hiện nay cả hai cháu đang sống cùng với anh Nh. Nguyện vọng của anh Nh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng các cháu đủ 18 tuổi, anh không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành hỏi ý kiến của cháu Bàn Anh T thì cháu có nguyện vọng xin được sống cùng với anh Nh, còn cháu Bàn Tuấn D chưa đủ 7 tuổi nên Tòa án không tiến hành hỏi ý kiến của cháu D.
Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Đặng Thị Đ đã bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà tuyên bố mất tích. Hiện nay cả hai cháu T và D đang sống cùng với anh Nh. Xét nguyện vọng của cháu T muốn sống cùng với anh Nh và anh Nh có nguyện vọng muốn được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T và cháu D, anh không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con chung là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu của anh Nh giao cho anh Bàn Văn Nh được trực tiếp trông nom, chăn sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu Bàn Ánh T và cháu Bàn Tuấn D, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, chị Đặng Thị Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cháu T và cháu D cũng như của cha, mẹ đối với con, khi nào chị Đ trở về anh Nh có quyền yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con chung hoặc chị Đ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con thì sẽ giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu có đủ căn cứ.
Về tài sản chung và các khoản nợ: Anh Nh không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Bàn Văn Nh phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Anh Bàn Văn Nh và chị Đặng Thị Đ được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 56 ; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Bàn Văn Nh. Anh Bàn Văn Nh được ly hôn với chị Đặng Thị Đ.
2. Về nuôi con khi ly hôn: Giao cho anh Bàn Văn Nh được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Bàn Ánh T, sinh ngày 12/02/2011 và cháu Bàn Tuấn D, sinh ngày 21/01/2013, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Đặng Thị Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con; mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh Bàn Văn Nh phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng )
̀ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi dân sự sơ
́ thẩm đa nô ̣̃ p là 300.000 đồng theo biên lai số 0002368, ngày 10 tháng 5 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Hà.
Án xử công khai sơ thẩm anh Bàn Văn Nh có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Đặng Thị Đ vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự - TAND tỉnh Lào Cai ; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện Bắc Hà; - CCTHADS huyện Bắc Hà; - UBND xã Nậm Đét; - Lưu HS;THS;VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thọ |