- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hồng V và chị Đặng Thị A
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09A/2019/DSST Ngày 28 tháng 10 năm 2019 “V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất“ |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Trọng Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thuật và ông Nguyễn Minh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Duy Liệu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì: Ông Nguyễn Thái Bình - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 10 năm 2019. Tại Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội xét xử công khai, sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 16/2019/TLST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2019. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2019/QĐXXST–DS ngày 10/10/2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hồng V, sinh năm 1985.
Chị Đặng Thị A, sinh năm 1991.
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện Ba Vì, TP Hà Nội.
* Người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1957.
Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện Ba Vì, TP Hà Nội.
Văn bản ủy quyền ngày 06/3/2019.
2. Bị đơn: Ông Đặng Văn L, sinh năm: 1969.
Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện Ba Vì, TP Hà Nội.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969.
Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện Ba Vì, TP Hà Nội.
Bà C, ông L, bà H có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn người đại diện cho nguyên đơn trình bày: Chị A và anh V được Bà C, ôngTR cho thửa số 80, tờ bản đồ số 14A, diện tích 162m2 tại thôn N, xã C, huyện Ba Vì, TP Hà Nội. Ngày 10 tháng 11 năm 2015 chị A được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Gia đình sử dụng ổn định đến năm 2017, đầu năm 2018 thì xẩy ra tranh chấp do ông L xây chuồng gà lấn sang đất của chị A việc này đã được Ủy ban nhân dân xã Cam Thượng hòa giải. Sau khi hòa giải Ông L đã tranh chấp phần gianh giới là rãnh nước của gia đinh chị A, phần rãnh nước này dài khoảng 5 đến 6 m rộng khoảng 25 đến 30 cm. Đây là rãnh nước của gia đình chị A nhưng Ông L không cho gia đình chị A sử dụng. Nay đề nghị buộc ông L trả lại phần đất rãnh nước cho gia đình chị A sử dụng.
Tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Đặng Văn L, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H trình bầy: Năm 1989 gia đình ông bà mua thửa đất có diện tích 296m2, thửa số 78, tờ bản đồ 14A tại thôn N, xã C, huyện Ba Vì, TP Hà Nội. Ngày 30 tháng 9 năm 2004 gia đình ông bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc vợ chồng chị A, anh V cho rằng gia đình ông bà lấn đất là không có cơ sở, phần đất này thuộc quyền sử dung của gia đình ông bà.
* Tại phiên tòa:
Các đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì phát biểu:
- Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, xác định đúng tư cách tố tụng của các đương sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Không chấp nhận đơn khởi kiện của anh V chị A
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về pháp luật tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã Cam Thượng huyên Ba Vì nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về nội dung:
Gia đình chị Đặng Thị A và gia đình ông Đặng V L là hai hộ liền kề. Chị Đăng Thị A được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất 162m2, ông Đặng V L được Nhà nước công nhận quyền sử dụng dất 296m2. Trong quá trình sinh sống sử dụng đất hai bên xẩy ra tranh chấp là đoạn rãnh thoát nước giáp ranh của hai bên gia đình. Khi xẩy ra tranh chấp chính quyền địa pH đã tiến hành hòa giải nhưng các bên không thống nhất. Chị A, anh V khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông L phải để phần đất lấn chiếm cho gia định anh chị sử dụng.
Tòa án tiến hành xem xét thẩm định, và do đạc thực tế diện tích đất của hai gia đình sử dụng thì thấy phần tranh chấp giáp giang hai gia đình có diện tích 1,5 m2 có chiều dài 9,1m chiều rộng 0,17m. Diện tích đất nhà ông L hiện tại đang sử dụng 293m2, diện tích đất nhà chị A đang sử dụng 160m2, cả hai hộ gia đình đều sử dụng thiếu so với diện tích được cấp. Qua đo đạc thì thấy, thực tế sử dụng đất nhà ông L có phần lấn ra đường và có phần thụt vào so với hộ liền kề, phần lấn ra đường có diện tích 6,7m2 phần thụt vào có diện tích 4,49m2. Nhà Chị A thực tế sử dụng có phần lấn ra đường có diện tích 1,7m2, phần xây thụt lại có diện tích 2,69m2. Như vậy thực tế không có việc ông L lấn chiếm đất nhà chị A, việc chị A anh V khởi kiện là không có cơ sở, nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị A anh V.
Về án phí: Anh Nguyễn Hồng V, chị Đặng Thị A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 163, 164 Bộ luật dân sự; Điều 170, 203 luật Đất đai; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án; Xử:
1. Không chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hồng V và chị Đặng Thị A
2. Xác định phần đất tranh chấp có chiều dài 9,1m chiều rộng 0,17m. Tổng diện tích 1.5m2 là phần đất thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Đặng V L.
3. Anh Nguyễn Hồng V, chị Đặng Thị A phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Đối trừ số tiền tạm ứng án phí theo biên lai số AG/2010/ 0009142 ngày 05/3/2019 của chi cục Thi hành án huyện Ba Vì.
4. Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội - VKSND huyện - Người tham gia tố tụng - THA dân sự - Lưu hồ sơ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Trọng Đức |