vanban.org

Bản án 09/2019/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân s; Điều 584 Bộ luật dân s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09 /2019/DS-ST
Ngày: 07-3-2019
“V/v tranh chấp bồi thường thiệt
hại về sức khỏe bị xâm phạm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Hoàng Vũ, Hội luật gia huyện Lai Vung

2. Bà Quang Kim Cúc, Nguyên giáo viên – Phó phòng giáo dục huyện Lai Vung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thành Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2019, tại trụ s Tòa án nhân dân huyện Lai Vung x t x sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 209/2018/TLST-DS ngày 07 tháng 12 năm 2018, về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm", theo Quy t ịnh ưa vụ án ra x t x số: 03/2019/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 02 năm 2019 gi a các ương s :

1. Nguyên đơn:

1.1. Anh Nguyễn Tấn N, sinh năm 1981

1.2. Chị Trần Thị M, sinh năm 1976; cùng trú tại: Số nhà 251B/3, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đ, là người ại diện theo pháp luật của Nguyễn Thị D, sinh năm 2010.

2. Bị đơn: Nguyễn Thanh H, sinh năm 2005

Người đại diện hợp pháp của H: Anh Nguyễn Quốc V, sinh năm 1979; chị Võ Bạch T, sinh năm 1980; cùng trú tại: Số nhà 215/3, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đ, là người ại diện theo pháp luật của bị ơn.

Người đại diện hợp pháp của anh V, chị T: Ông Nguyễn Xuân Kh, sinh năm 1954; trú tại: Số nhà 31/9, Khóm 2, Phường 1, thành phố S, tỉnh Đ, là người ại diện theo ủy quyền của bị ơn (Văn bản ủy quyền ngày 19 tháng 12 năm 2018).

Các ương s có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 26 tháng 10 năm 2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn anh Nguyễn Tấn N, chị Trần Thị M- người đại diện theo pháp luật của Nguyễn Thị D trình bày:

Ngày 10/6/2018 Nguyễn Thị D, sinh ngày 14/4/2010 (con ruột của anh N, chị M) n nhà của Nguyễn Thanh H, sinh ngày 01/01/2005 (con ruột của anh V, chị T) chơi, khi i có ngậm cây kẹo mút. Khoảng 10 phút sau D chạy ra trước nhà nói với chị M là D bị ra máu nhiều và k o chị M vô nhà. D vào nhà vệ sinh r a nhưng máu âm hộ vẫn chảy. Sau ó, chị M ưa D n Bệnh viện Đa khoa Sa Đ c cấp cứu. Tại ây, bác sĩ xác ịnh âm hộ của D bị tổn thương, có dấu hiệu bị xâm hại. S việc ược trình báo với Cơ quan cảnh sát iều tra Công an huyện Lai Vung. Tại cơ quan Điều tra D xác ịnh H cầm dương vật ưa vào âm hộ của D, còn H khai lấy cây kẹo của D ang ăn ưa vào âm hộ của D. K t quả iều tra cơ quan Cảnh sát iều tra Công an huyện Lai Vung k t luận không có dấu hiệu phạm tội hình s do H chưa ủ tuổi chịu trách nhiệm hình s .

Nay anh N, chị M rút lại một phần yêu cầu kh i kiện gồm các khoản: Tiền ăn của người bệnh 20.000 ồng; Tiền khám bệnh: 70.000 ồng;Tiền xe: 800.000 ồng; Tiền mất thu nhập 02 người nuôi bệnh 1.600.000 ồng; Tiền ăn người nuôi bệnh: 200.000 ồng; Tiền mất thu nhập của 01 người nuôi bệnh 30 ngày là 6.000.000 ồng, tổng cộng 8.690.000 ồng. Anh N, chị M chỉ yêu cầu Nguyễn Thanh H- người ại diện của H là anh Nguyễn Quốc V và Võ Bạch T bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho Nguyễn Thị D các khoản cụ thể:

- Tiền viện phí tại Bệnh viện Đa khoa Sa Đ c: 4.454.224 ồng

- Tiền tổn thất tinh thần 50 tháng lương cơ s x 1.390.000 ồng = 69.500.000 ồng.

Tổng cộng: 73.954.224 ồng.

* Bị đơn ông Nguyễn Xuân Kh đại diện theo ủy quyền của bị đơn có lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm trình bày:

Ông Kh thống nhất lời trình bày của anh N, chị M về ngày tháng năm và s

việc xãy ra gi a H và D.

Nay anh V, chị T ại diện theo pháp luật của H ồng ý bồi thường cho anh

N, chị M là người ại diện theo pháp luật của D các khoản như sau:

- Tiền viện phí 4.454.224 ồng;

- Tiền ăn của người bệnh 20.000 ồng;

- Tiền khám bệnh: 70.000 ồng;

- Tiền xe: 800.000 ồng;

- Tiền mất thu nhập 02 người nuôi bệnh 1.600.000 ồng;

- Tiền mất thu nhập của 01 người nuôi bệnh 15 ngày là 3.000.000 ồng;

- Tiền ăn người nuôi bệnh: 200.000 ồng;

- Tiền tổn thất tinh thần 25 tháng lương. Cụ thể: 1.390.000 ồng x 25 tháng = 34.750.000 ồng.

Tổng cộng các khoản: 44.894.224 ồng (Bốn mươi bốn triệu tám trăm chin mươi bốn nghìn hai trăm hai mươi bốn đồng).

Tại phiên tòa ông Nguyễn Xuân Kh trình bày do nguyên ơn không yêu cầu các khoản:

- Tiền ăn của người bệnh 20.000 ồng; Tiền khám bệnh: 70.000 ồng;Tiền xe: 800.000 ồng; Tiền mất thu nhập 02 người nuôi bệnh 1.600.000 ồng; Tiền ăn người nuôi bệnh: 200.000 ồng; Tiền mất thu nhập của 01 người nuôi bệnh 15 ngày là 3.000.000 ồng, tổng cộng 5.690.000 ồng. Vì vậy, anh V, chị T ồng ý bồi thường thêm tiền tiền tổn thất tinh thần là 04 tháng lương cơ s n a. Theo ó, anh V, chị T ồng ý bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho Nguyễn Thị D gồm:

- Tiền viện phí 4.454.224 ồng;

- Tiền tổn thất tinh thần 29 tháng lương. Cụ thể: 1.390.000 ồng x 29 tháng = 40.310.000 ồng.

Tổng cộng: 44.764.224 ồng (Bốn mươi bốn triệu bảy trăm sáu mươi bốn nghìn hai trăm hai mươi bốn đồng)

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị x t x :

-Thẩm phán ược phân công thụ lý giải quy t vụ án ã th c hiện ầy ủ các quy ịnh của Bộ luật tố tụng dân s năm 2015. Tuy nhiên, Thẩm phán sắp x p tư cách ương s và cho nguyên ơn nộp tiền tạm ứng án phí là chưa úng.

* Việc tuân theo pháp luật của Hội ồng x t x , Thư ký phiên tòa:

-Tại phiên tòa, Hội ồng x t x ã tuân theo úng các quy ịnh của Bộ luật tố tụng dân s về việc x t x sơ thẩm vụ án.

* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quy t vụ án, kể từ khi thụ lý cho n trước thời iểm Hội ồng x t x nghị án:

- Các ương s ã th c hiện ầy ủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo úng quy ịnh pháp luật.

Về nội dung: Qua phát biểu tranh luận và trên cơ s phân tích, ánh giá chứng cứ thể hiện trong hồ sơ, ề nghị Hội ồng x t x : Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh Nguyễn Tấn N và chị Trần Thị M.

Buộc anh Nguyễn Quốc V và chị Võ Bạch T là người ại diện theo pháp luật của Nguyễn Thanh H liên ới phải bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Thị D, người ại diện theo pháp luật của D là anh Nguyễn Tấn N và chị Trần Thị M các khoản gồm:

- Tiền viện phí 4.454.224 ồng;

- Tiền tổn thất tinh thần 50 tháng lương cơ s . Cụ thể: 1.390.000 ồng x 50 tháng = 69.500.000 ồng.

Tổng cộng: 73.954.224 ồng

* Ki n nghị: Đề nghị Thẩm phán sắp x t tư cách ương s và x lý tiền tạm ứng án phí theo úng quy ịnh của pháp luật và rút kinh nghiệm trong thời gian tới.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về nội dung: X t yêu cầu của anh Nguyễn Tấn N, chị Trần Thị M là người ại diện theo pháp luật của Nguyễn Thị D yêu cầu Nguyễn Thanh H- người ại diện theo pháp luật của H là anh Nguyễn Quốc V và chị Võ Bạch T bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho Nguyễn Thị D các khoản cụ thể: Tiền viện phí tại Bệnh viện Đa khoa Sa Đ c: 4.454.224 ồng; Tiền tổn thất tinh thần 50 tháng lương cơ s x 1.390.000 ồng = 69.500.000 ồng, tổng cộng: 73.954.224 ồng, Hội ồng x t x x t thấy:

Trên cơ s lời trình bày của các ương s và tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ xác ịnh: Ngày 10/6/2018 Nguyễn Thị D, sinh ngày 14/4/2010 (con ruột của anh N, chị M) n nhà của Nguyễn Thanh H, sinh ngày 01/01/2005 (con ruột của anh V, chị T) chơi, khi i có ngậm cây kẹo mút. Khoảng 10 phút sau D chạy về nhà thì âm hộ bị ra nhiều máu nên anh N, chị M ã ưa D n bệnh viện Sa Đ c ể iều trị. Tại cơ quan Công an huyện Lai Vung Nguyễn Thanh H thừa nhận ã dùng cây kẹo của D ang ăn ưa vào âm hộ của D gây tổn thương. Anh Nguyễn Xuân Kh người ại diện theo ủy quyền của anh V, chị T (cha mẹ của H) thống nhất việc H ã gây thiệt hại cho D như ã nêu trên. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân s quy ịnh: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luật của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Như vậy, việc Nguyễn Thanh H ã gây thiệt hại về sức khỏe cho Nguyễn Thị D là th c t .

Điều 584 Bộ luật dân s năm 2015 quy ịnh về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Về trách nhiệm bồi thường:

Khoản 2 Điều 586 của Bộ luật dân s quy ịnh về năng l c chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân như sau:

“ 2. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này ”.

Căn cứ quy ịnh của pháp luật thì Nguyễn Thanh H, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2005 n ngày 10 tháng 6 năm 2018 thì xãy ra việc gây thiệt hại về sức khỏe ối với Nguyễn Thị D. Như vậy tại thời iểm này Nguyễn Thanh H chưa ủ 15 tuổi nên anh N, chị M yêu cầu ông anh V, chị T người ại diện theo pháp luật của Nguyễn Thanh H (cha mẹ của Nguyễn Thanh H) là người phải chịu trách nhiệm bồi thường là úng quy ịnh của pháp luật. Tuy nhiên, các khoản yêu cầu của anh N, chị M cần phải căn cứ quy ịnh của pháp luật ể xác ịnh thiệt hại th c t và mức ộ lỗi của mỗi bên trong việc gây thiệt hại ể từ ó xác ịnh mức bồi thường phù hợp.

Xác ịnh thiệt hại:

Điều 590 của Bộ luật dân s năm 2015 quy ịnh về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm:

“ 1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

d) Thiệt hại khác do luật định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất vầ tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá 50 lần mức lương cơ sở do nhà nước quy định.”

Căn cứ vào các chứng từ hóa ơn iều trị bệnh cho Nguyễn Thị D tại bệnh viện Sa Đ c do anh N, chị M cung cấp thì số tiền viện phí 4.454.224 ồng là th c t . Vì vậy, anh N, chị M yêu cầu anh V, chị T bồi thường tiền viện phí tại Bệnh viện a khoa Sa Đ c số tiền 4.454.224 ồng và anh V, chị T ồng ý bồi thường số tiền này là có căn cứ.

Đối với yêu cầu của anh N, chị M yêu cầu anh V, chị T bồi thường tiền tổn thất tinh thần 50 tháng lương cơ s là 69.500.000 ồng, Hội ồng x t x x t thấy: Nguyễn Thanh H và Nguyễn Thị D cả hai ều chưa thành niên nên việc quản lý giáo dục là trách nhiệm của cha mẹ. Việc H gây tổn hại sức khỏe cho D là ngoài ý muốn của anh V, chị T. Anh N, chị M cũng không muốn s việc trên xãy n với cháu D. Tuy nhiên, H, D là người chưa thành niên nên chưa nhận th c ầy ủ việc làm của mình nhưng cả anh V, chị T, anh N, chị M ều thi u quan tâm trong việc quản lý, giáo dục con cái dẫn n việc xãy ra như trên.

Khoản 4 Điều 585 của Bộ luật dân s năm 2015 quy ịnh về nguyên tắc bồi thường thiệt hại:

4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

Như ã nhận ịnh về mức ộ lỗi thì ây là lỗi hổn hợp nên anh N, chị M yêu cầu anh V, chị T bồi thường 50 tháng lương cơ s là không hợp lý. Tại iểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quy t số 03/2006/NQ- HĐTP, ngày 08/7/2006 của Hội ồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy ịnh: “Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân ược hiểu là do sức khỏe, danh d , nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu au thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm… và cần phải ược bồi thường một khoản tiền bù ắp tổn thất mà họ phải chịu”. Tại iểm b tiểu mục 1.5 mục 1 Phần II của Nghị quy t quy ịnh: “ …….Việc xác ịnh mức ộ tổn thất về tinh thần cần căn cứ vào s ảnh hư ng n nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao ti p xã hội hoặc sinh hoạt gia ình và cá nhân…”. Trên cơ s ó, việc H xâm phạm sức khỏe của D là th c t . Tuy nhiên, s ảnh hư ng n nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao ti p xã hội hoặc sinh hoạt gia ình và cá nhân…là chưa n mức phải buộc bên gây thiệt hại bồi thường n mức tối a 50 lần mức lương cơ s do Nhà nước quy ịnh. Trên cơ s ánh giá chứng cứ và quy ịnh của pháp luật nêu trên chấp nhận một phần yêu cầu của anh N, chị M là có căn cứ. Tuy nhiên, anh V, chị T ồng ý bồi thường tiền tồn thất tinh thần 29 tháng lương cơ sơ với số tiền 40.310.000 ồng là chưa tương xứng với thiệt hại ã gây ra. Theo ó, buộc anh V, chị T bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Thị D- người ại diện theo pháp luật anh Nguyễn Tấn N và chị Trần Thị M các khoản gồm: Tiền thuốc, viện phí 4.454.224 ồng; Tiền tổn thất tinh thần 30 tháng lương cơ s là có căn cứ. Lương cơ s do Nhà nước quy ịnh hiện hành là 1.390.000 ồng/ tháng. Theo ó, tiền tổn thất tinh thần anh V, chị T phải bồi thường là 1.390.000 ồng x 30 = 41.700.000 ồng, tổng cộng các khoản anh V, chị T phải bồi thường số tiền là 46.154.224 ồng (Bốn mươi sáu triệu một trăm năm mươi bốn nghìn hai trăm hai mươi bốn đồng).

Anh N, chị M rút yêu cầu kh i kiện ối với anh V, chị T bồi thường các khoản gồm: Tiền ăn của người bệnh 20.000 ồng; Tiền khám bệnh: 70.000 ồng; Tiền xe: 800.000 ồng; Tiền mất thu nhập 02 người nuôi bệnh 1.600.000 ồng; Tiền ăn người nuôi bệnh: 200.000 ồng; Tiền mất thu nhập của 01 người nuôi bệnh 30 ngày là 6.000.000 ồng, tổng cộng 8.690.000 ồng, nên ình chỉ yêu cầu trên của anh N và chị M.

X t ý ki n của ại diện Viện Kiểm sát: ề nghị Hội ồng x t x chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh Nguyễn Tấn N và chị Trần Thị M. Buộc anh Nguyễn Quốc V và chị Trần Thị T liên ới bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Thị D- người ại diện theo pháp luật anh Nguyễn Tấn N và chị Trần Thị M với tổng số tiền là 73.954.224 ồng. Hội ồng x t x x t thấy, quan iểm của ại diện Viện Kiểm sát là chưa phù hợp.

Về án phí dân s sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân s ; Điều 26 Nghị quy t số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy ịnh về nghĩa vụ chịu án phí: Do chấp nhận một phần yêu cầu của anh N và chị M nên anh V, chị T phải chịu án phí dân s sơ thẩm ối với yêu cầu ược chấp nhận. Đây là vụ án tranh chấp dân s có giá ngạch. Theo ó, anh V, chị T phải bồi thường cho anh N, chị M các khoản với tổng số tiền là 46.154.224 ồng (Bốn mươi sáu triệu một trăm năm mươi bốn nghìn hai trăm hai mươi bốn đồng). Mức án phí anh V, chị T phải chịu theo quy ịnh là: “ Từ 6.000.000đồng đến 400.000.000đồng thì mức án phí là 5% giá trị tài sản có tranh chấp”. Vì vậy, anh V, chị T phải nộp 2.307.700 ồng (Hai triệu ba trăm lẽ bảy nghìn bảy trăm đồng) án phí dân s sơ thẩm.

Vì các l trên;

QUY T ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân s ;

Căn cứ Điều 584, Khoản 4 Điều 585; Khoản 2 Điều 586, Điều 590 của Bộ luật dân s năm 2015;

Căn cứ Điều 26 Nghị quy t số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy ịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu của anh Nguyễn Tấn N và chị Trần Thị M.

Buộc anh Nguyễn Quốc V và chị Võ Bạch T là người ại diện theo pháp luật của Nguyễn Thanh H liên ới phải bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Thị D, người ại diện theo pháp luật của D là anh Nguyễn Tấn N và chị Trần Thị M các khoản gồm:

- Tiền viện phí: 4.454.224 ồng;

-Tiền tổn thất tinh thần 41.700.000 ồng.

Tổng cộng: 46.154.224 ồng (Bốn mươi sáu triệu một trăm năm mươi bốn nghìn hai trăm hai mươi bốn đồng).

Đình chỉ yêu cầu của anh N, chị M yêu cầu anh V, chị T bồi thường các khoản với số tiền là 8.690.000 ồng (Tám triệu sáu trăm chin mươi nghìn đồng).

Về án phí dân s sơ thẩm: anh Nguyễn Quốc V, chị Võ Bạch T phải nộp 2.307.700 ồng (Hai triệu ba trăm lẽ bảy nghìn bảy trăm đồng) án phí dân s sơ thẩm.

Hoàn trả cho anh Nguyễn Tấn N và chị Trần Thị M số tiền tạm ứng án phí ã nộp là 190.000 ồng, theo biên lai số 0002553 ngày 07/12/2018 của Chi cục thi hành án dân s huyện Lai Vung.

Kể từ ngày anh N, chị M làm ơn yêu cầu thi hành án mà anh V, chị T chưa thi hành xong các khoản tiền phải trả cho anh N, chị M thì hàng tháng anh V, chị T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất bằng 50% quy ịnh tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân s năm 2015 cho n khi thi hành án xong.

Trường hợp bản án, quy t ịnh ược thi hành theo quy ịnh tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân s thì người ược thi hành án dân s , người phải thi hành án dân s có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo quy ịnh tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án ược th c hiện theo quy ịnh tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân s .

Các ương s có quyền làm ơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ