vanban.org

Bản án 09/2018/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV TM DV ABH.

Buộc Công ty TNHH MTV T có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH MTV TM DV ABH tiền mua bán gạo còn nợ 6.346.513.600 đồng và lãi 458.147.764 đồng, tổng cộng 6.804.661.346 (Sáu tỷ tám trăm lẽ bốn triệu sáu trăm sáu mươi một nghìn ba trăm bốn mươi sáu đồng). Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu th…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Cty ABH - Cty T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV TM DV ABH.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 Luật thương mại; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 09/2018/KDTM-ST
Ngày: 23-11-2018
V/v Tranh chấp về hợp
đồng mua bán hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thế Văn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Bờ

Ông Huỳnh Văn Hùng

-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.

Trong các ngày 16 và 23 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 08/2018/TLST – KDTM ngày 21 tháng 8 năm 2018 về việc Tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2018/QĐXXST-KDTM ngày 09 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV TM DV ABH có trụ sở tại địa chỉ: Số 830, ấp VH, xã VTT, huyện CP, An Giang.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đoàn V – chức vụ Tổng giám đốc, có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lương Tường H, sinh năm 1986 nơi cư trú: Ấp VL, thị trấn CD, huyện CP, An Giang theo giấy ủy quyền lập ngày 04/9/2018, có mặt.

- Bị đơn: Công ty TNHH MTV T có trụ sở tại địa chỉ: Số 482, quốc lộ 91, ấp VT, xã VTT, huyện CP, An Giang, vắng mặt.

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/8/2018, lời khai của đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông Lương Tường H trình bày: Từ ngày 19/3/2018 đến ngày 01/4/2018, Công ty TNHH MTV TM DV ABH (gọi tắt Công ty ABH) đã 08 lần bán gạo xô cho Công ty TNHH MTV T (gọi tắt Công ty T) với tổng số lượng 1.107.888kg, đơn giá là 9.700đ/kg, thành tiền là 10.746.513.600 đồng. Hợp đồng mua bán trên được 02 bên thực hiện bằng lời nói và việc giao nhận gạo do Công ty T – Nhà máy chế biến lương thực PĐ thực hiện.

Ngày 23/5/2018 hai bên tiến hành lập Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ do Nhà máy chế biến lương thực PĐ thuộc Công ty T ký xác nhận.

Công ty T đã trả được 4.400.000.000 đồng, còn nợ lại 6.346.513.600 đồng đến nay chưa thanh toán.

Nay Công ty ABH yều cầu Công ty T phải trả tiền mua gạo còn nợ là 6.346.513.600 đồng và yêu cầu tính lãi từ ngày 23/5/2018 theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Công ty T là bị đơn, đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập xét xử tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng không có mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ ngày 23/05/2018 giữa Nhà máy chế biến lương thực PĐ thuộc Công ty T và Công ty ABH thể hiện: Nhà máy chế biến lương thực PĐ có mua của Công ty ABH 08 lần gạo xô với số lượng 1.107.888 kg, đơn giá là 9.700đ/kg, thành tiền là 10.746.513.600 đồng, thanh tóan được 3.600.000.000 đồng. Sau khi đối chiếu và xác nhận công nợ, Nhà máy máy chế biến lương thực PĐ có thanh toán cho Công ty ABH được 800.000.000 đồng. Như vậy, Nhà máy chế biến lương thực PĐ đã thanh toán được tổng cộng 4.400.000.000 đồng, còn nợ Công ty ABH 6.346.513.600 đồng.

[2.2] Hợp đồng mua bán gạo giữa Nhà máy chế biến lương thực PĐ thuộc Công ty T và Công ty ABH được xác lập bằng lời nói, theo người đại diện của Công ty ABH hai bên thỏa thuận thời hạn thanh toán là giao xong gạo lần nào là thanh toán lần đó. Nhà máy chế biến lương thực PĐ không thanh toán nợ đúng hạn nên phải chịu lãi chậm thanh toán từ ngày 23/05/2018 đến ngày xét xử là 05 tháng 28 ngày theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường hiện nay. Lãi suất trung bình cho vay của các ngân hàng tại địa phương hiện nay như sau: Ngân hàng Ngoại Thương là 10,2%/năm, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn 9,5%/năm, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển 9,5%/năm, lãi suất cho vay trung bình của 03 ngân hàng là 9,73%, lãi suất quá hạn trung bình: 150% x 8,75%/năm = 14,6%/năm. Số tiền lãi chậm trả: 6.346.513.600 x 14,6%/năm x 05 tháng 28 ngày = 458.147.764 đồng.

[2.3] Nhà máy chế biến lương thực PĐ là đơn vị thuộc Công ty T, nên Công ty T có nghĩa vụ trả cho Công ty ABH tiền mua bán gạo còn nợ 6.346.513.600 đồng và lãi 458.147.764 đồng, tổng cộng 6.804.661.346 đồng.

[3]Về án phí:

Công ty TNHH MTV T phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Công ty TNHH MTV TM DV ABH không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, Điều 91, Điều 147, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 50, Điều 306 Luật thương mại; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV TM DV ABH.

Buộc Công ty TNHH MTV T có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH MTV TM DV ABH tiền mua bán gạo còn nợ 6.346.513.600 đồng và lãi 458.147.764 đồng, tổng cộng 6.804.661.346 (Sáu tỷ tám trăm lẽ bốn triệu sáu trăm sáu mươi một nghìn ba trăm bốn mươi sáu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo lãi suất quy định tại Điều 306 Luật Thương mại trên số tiền tương ứng với thời gian chậm trả.

Công ty TNHH MTV T phải chịu 114.804.000 (một trăm mười bốn triệu tám trăm lẽ bốn nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Công ty TNHH MTV TM DV ABH không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Trả lại Công ty TNHH MTV TM DV ABH (do Nguyễn Đoàn V đại diện nhận) 57.000.000 (năm mươi bảy triệu đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0010040 ngày 21/08/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CP.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt, thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ