vanban.org

Bản án 09/2018/KDTM-PT — Tranh chấp giữa công ty với các thành viên công ty...

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/05/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp giữa công ty với các thành viên công ty... — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp giữa thành viên Công ty với Công ty"
  • Căn cứ chính? Điều 126 Luật Doanh nghiệp; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

09/2018/KDTM-PT
25 - 5 - 2018
V/v Tranh chấp giữa thành
viên Công ty với Công ty

NHÂN DANH

-

–

Ông Lê Tự

Ông Trương

Ông

-

.

: Ông Nguyễn Hải Tuấn -

Ngày 25 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 04/2017/TLPT-KDTM ngày 15/11/2017 về việc: “Tranh chấp giữa thành viên Công ty với Công ty”.

Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 04/2017/KDTM-ST ngày 7 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04B/2018/QĐ-PT ngày 02/5/ 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Viết T, sinh năm 1970.

Địa chỉ: 26 đường Đ, quận T, thành phố Đà Nẵng.

2. Bị đơn: Công ty Cổ phần ĐTQ.

Địa chỉ: khối phố H, phường N, thị xã Đ1, tỉnh Quảng Nam.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1981

Địa chỉ: 09 đường H, quận N, thành phố Đà N ng.

kháng cáo: Công ty

ĐTQ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Công ty

ĐTQ (

Công ty ĐTQ) là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, là chủ sở hữu Trường phổ thông nhiều cấp học H theo Giấy chứng nhận đầu tư số 31/CN-UBND ngày 12/7/2011, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam cấp lần đầu vào ngày 18/8/2009 và đăng ký thay đổi lần 2 vào ngày 14/01/2013.

Ngày 08/02/2014, bà Nguyễn Thị Tuyết N chuyển nhượng 160.000 cổ phần chiếm tỷ lệ sở hữu cổ phần 12,13% của Công ty ĐTQ cho ông Trần Viết T theo hợp đồng chuyển nhượng được công chứng tại Văn phòng công chứng H, thành phố H, tỉnh Quảng Nam

xác nhận của bà Đoàn Thị S - Giám đ c Công ty ĐTQ.

Ngày 09/02/2014 ông Trần Viết T gửi thông báo đến Công ty ĐTQ về việc thay đổi cổ đông và yêu cầu họp cổ đông bất thường lần 1 (Gửi bằng EMS: EI 56.217.760.2 VN). Ngày 19/4/2014 gửi thông báo yêu cầu họp cổ đông bất thường lần 2 báo cáo tình hình kết quả kinh doanh năm 2013 và báo cáo tình hình tài chính của Công ty ( bằng EMS: EI56.820.930.9 VN). Ngày 12/5/2014 gửi thông báo yêu cầu họp cổ đông bất thường lần 3 (gửi bằng EMS: EI 55.885.623.7 VN).

Kể từ ngày 08/02/2014, bà Nguyễn Thị Tuyết N và ông Trần Viết T đã gửi đến Công ty ĐTQ các thông báo về việc chuyển nhượng cổ phần và đề nghị ghi 160.000 cổ phần vào Sổ đăng ký cổ đông Công ty ĐTQ sang tên ông Trần Viết T. Nhưng đến nay Công ty ĐTQ vẫn không thực hiện và không có văn bản trả lời nguyên nhân vì sao không thực hiện để đảm B quyền lợi của cổ đông.

Ngày 17/9/2015, Công ty ĐTQ đã lập danh sách cổ đông được mời tham dự Đại hội đồng cổ đông bất thường vào ngày 28/9/2015 với nội dung quan trọng sửa đổi Điều lệ Công ty ĐTQ, thay đổi người đại diện theo pháp luật nhưng quyền biểu quyết

160.000 cổ phần tương ứng 12,13% do bà Nguyễn Thị Tuyết N đã chuyển nhượng cho ông Trần Viết T đã không được Công ty ĐTQ thừa nhận nên ông Trần Viết T mất quyền biểu quyết 12,13%.

Tại đại hội có những thay đổi ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi cổ đông của ông Trần Viết T, cụ thể như sau:

- Sửa đổi Điều 21, Mục E.2 điểm a và b về việc thông qua quyết định của cổ đông. Theo đó Quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thông qua tại cuộc họp khi:

+ Được số cổ đông đại diện ít nhất 55% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả các cổ đông dự họp chấp thuận. Điều lệ hiện nay 65%, thay đổi chỉ còn 55%.

+ Đối với quyết định về loại cổ phần được quyền chào bán của từng loại, bán hơn 50% tổng giá trị tài sản ghi trong sổ kế toán của Công ty thì phải được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiêu bi u quyêt của t t cả các c đông dự họp ch p thuận. Điều lệ hiện nay 75% giảm xuống còn 65%.

Ô

T

iệc giảm tỷ lệ biểu quyết này nhằm có lợi cho cá nhân ông Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty ĐTQ Công ty M) về quyền phủ quyết tất cả mà không cần ý kiến đồng ý hay không từ các cổ đông còn lại.

Ngày 16/3/2016, ông Trần Viết T làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

- Yêu cầu Công ty ĐTQ xác nhận và ghi vào sổ đăng ký cổ đông 160.000 cổ phần cho ông Trần Viết T theo h đồng chuyển nhượng cổ phần.

- Đăng ký 160.000 cổ phần của ông Trần Viết T với Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam theo Điều lệ Công ty.

Tại phiên tòa

ông T rút phần yêu cầu buộc Công ty ĐTQ phải đăng ký 160.000 cổ phần với Sở K hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam.

Công ty ĐTQ không

k

uyên đơn

T

:

Tại biên bản họp số 43/BB ngày 11/01/2013 của Công ty ĐTQ (kèm theo hồ sơ đăng ký đã được Sở K hoạch và Đầu tư đăng ký thay đổi) b sung thêm và điều chỉnh vốn đối với phần vốn góp của ông Trần Viết T như sau:

Ông Trần Viết T sở hữu 280.600 cổ phần tương đương 2.806.000.000 đồng (mệnh giá l0.000đồng/01cổ phần) chiếm tỷ lệ 21,28%. Ngày 06/02/2013, ông T ký kết h p đồng chuyển nhượng 120.600 cổ phần tương đương 1.206.000.000 đồng cho Công ty M. Bên cạnh đó ông T chuyển nhượng 160.000 cổ phần tương đương 1.600.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Tuyết N (theo sổ cổ đông của Công ty đã nộp cho Phòng đăng ký kinh doanh), không có hợp đồng chuyển nhượng. Tổng cộng, ông T đã chuyển nhượng hết 280.600 cổ phần tươngđương 2.806.000.000 đồng. Tuy nhiên, căn cứ theo sổ sách kế toán Công ty, tính đến 31/12/2012, tổng số tiền góp vốn vào Công ty của các cổ đông là 13.191.000.000 đồng, trong đó vốn góp bằng hình thức nộp tiền vào tài khoản ngân hàng là 1.260.000.000 đồng, vốn góp bằng tiền mặt (Phiếu thu) là: 11.931.000.000 đồng, cụ thể ông Trần Viết T

: 2.551.000.000 đồng

Theo thống kê, ông T đã góp vốn bằng hình thức phiếu thu tiền mặt

tổng cộng 2.551.000.000 đồng. Tuy nhiên, tất cả các phiếu thu góp vốn bằng tiền mặt đều không có chữ ký của người nộp tiền và thủ quỹ (đính kèm kết quả kiểm tra của Công ty TNHH Kiểm Toán F- Chi nhánh Miền trung).

Căn cứ các quy định tại khoản 1 Điều 17 Luật kế toán số 03/2003/QH11, Khoản 3 Điều 11 Thông tư số 200/2014/TT-BTC, đối chiếu với các phiếu thu nộp tiền góp vốn tại Công ty, cho thấy tất cả các phiếu thu tiền góp vốn tại Công ty là không h p lệ, trong đó có số tiền góp vốn của ông Trần Viết T là 2.551.000.000 đồng. Thực tế cho thấy rằng, tại thời điểm góp vốn không có thủ quỹ ký nhận, tức là không có ai nhận ti n. Hơn thế nữa, số tiền quá lớn như vậy, két sắt của Công ty không đủ để chứa và bảo quản.

Do đó, tính tới thời điểm ông T chuyển nhượng toàn bộ vốn góp, số tiền 2.551.000.000đ ông T chưa góp. Tuy nhiên, ông T lại dùng số cổ phần chưa góp vào Công ty chuyển nhượng cho Công ty M và bà Nguyễn Thị Tuyết N.

Ngày 08 tháng 02 năm 2014, bà Nguyễn Thị Tuyết N chuyển nhượng ngược lại cho ông T 160.000 cổ phần trên. Pháp luật quy định khi một bên tham gia giao dịch dân sự bị lừa dối thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu (Điều 132 Bộ luật Dân sự 2005). Tuy nhiên, nguồn gốc số cổ phần trên là không có do ông T chưa góp đủ, cho nên hợp đồng chuyển nhượng của ông T cho bà N vô hiệu. Kéo t

bà N cho ông T c ng vô hiệu theo quy định của pháp luật.

Công ty ĐTQ phản tố yêu c u giải quyết các vấn đề sau:

- Không công nhận 280.600 cổ phần tương đương 2.806.000.000 đồng (Hai tỷ tám trăm lẻ sáu triệu đồng) của ông T tại Công ty ĐTQ.

- Yêu cầu Tòa án tuyên bố h p đồng chuyển nhượng cổ phần giữa ông Trần Viết T và bà Nguyễn Thị Tuyết N vô hiệu.

u cầu phản tố

ĐTQ yêu cầu Tòa án xem xét không công nhận 280.600 cổ phần tương đương giá trị 2.806.000.000 đồng (mệnh giá 10.000 đồng/01 cổ phần) của ông Trần Viết T tại Công ty ĐTQ, ông Trần Viết T

là cổ đông tham gia góp vốn vào Công ty ĐTQ dựa trên chủ trương kêu gọi vốn đầu tư và hình thức kêu gọi cổ đông của Công ty ĐTQ chi tiết ở văn bản thông báo về việc đồng ý góp vốn đầu tư xây dựng trường phổ thông nhiều cấp H số 03/TB-Cty ngày 15/02/2010 của bà Đoàn Thị S, Sổ cổ đông của ông T do ông Nguyễn Đức C Chủ tịch HĐQT Công ty ĐTQ xác nhận ông T sở hữu 287.600 cổ phần phổ thông mệnh giá 10.000 đồng/cổ phần (Kèm theo chứng cứ là bản photo sổ cổ đông vì bản gốc đã nộp lại cho Công ty ĐTQ sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng với Công ty cổ phần Tập đoàn kinh tế giáo dục M - gọi là Công ty M), số cổ phần trên của ông Trần Viết T đã được đăng ký tại Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 400689323 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam cấp, đăng ký thay đổi lần 2 ngày 14/01/2013 (Giấy phép này hiện đang lưu tại Công ty ĐTQ).

Ông Trần Viết T chuyển nhượng cho ông Nguyễn Đức C 7.000 cổ phần với giá chuyển nhượng 8000đ/cổ phần và số cổ phần còn lại là 280.600 cổ phần. Nội dung này được thể hiện ở văn bản thỏa thuận ngày 10/01/2013 được ký xác nhận của tất cả các cổ đông Công ty ĐTQ và ông Trần Quốc B với tư cách là người mua cổ phần của các cổ đông có sở hữu cổ phần tại Công ty ĐTQ tại thời điểm đó.

Với 280.600 cổ phần còn lại ông Trần Viết T đồng ý chuyển nhượng cho Công ty M (do ông Trần Quốc B làm đại diện) 120.600 cổ phần với mệnh giá 8000đ/cổ phần theo hợp đồng chuyển nhượng ngày 29/01/2013 tại Văn phòng Công chứng H. Ông Trần Quốc B không chịu trả tiền nhưng vẫn đứng tên sở hữu 120.600 cổ phần này nên buộc ông Trần Viết T nộp đơn khởi kiện Công ty M. Kết quả đơn khởi kiện thể hiện ở Bản án số 07/2014/KDTM-ST ngày 09/9/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, Bản án số 17/2015/KDTM-PT ngày 24/8/2015 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà N ng buộc Công ty M trả lại cho ông T 120.600 cổ phần đã nhận chuyển nhượng, số 120.600 cổ phần này đã được Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam ra Quyết định thi hành số 35/QĐ-CTHA ngày 07/10/2015 và thông báo số 129/TB-CTHA ngày 01/12/2015 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam khẳng định ông Trần Viết T được tiếp tục sở hữu số cổ phần tại Công ty ĐTQ là 120.600 cổ phần có hiệu lực từ ngày ký.

Số cổ phần còn lại 160.000 cổ phần ông Trần Viết T chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Tuyết N tại Văn phòng công chứng H ngày T9/02/20T3 và

đã được bà Đoàn Thị S ký xác nhận, bà N đã được ghi tên trong đăng ký cổ đông Công ty ĐTQ và đăng ký với Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam theo quy định.

Về yêu cầu

Công ty ĐTQ

Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng 160.000 cổ phần của bà Nguyễn Thị Tuyết N với ông Trần Viết T ngày 08/02/2014 vô hiệu,

T

Bà Nguyễn Thị Tuyết N đã ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Trần Viết T số lượng 160.000 cổ phần vào ngày 08/02/2014 tại Văn phòng Công chứng H và bà Đoàn Thị S ký xác nhận.

thời điểm

bà Đoàn Thị S vẫn là Giám đốc Công ty ĐTQ, là người đại diện theo pháp luật của Công ty và được đăng ký tại Sở K hoạch và Đ u tư tỉnh Quảng Nam. Việc chuy n nhượng này không có tranh chấp và không khởi kiện từ bên mua và bên bán. Những chứng cứ chứng minh hoàn tất việc chuyển nhượng gồm: Giấy chứng nhận sở hữu 160.000 cổ phần bà Nguyễn Thị Tuyết N ký ngày 01/3/2013; Giấy chứng nhận sở hữu 160.000 cổ phần ông Trần Viết T ký ngày 08/02/2014; Biên bản thanh lý hợp đồng giữa ông Trần Viết T và bà Nguyễn Thị Tuyết N ký ngày 08/02/2014.

Ngoài ra, ông Trần Quốc B đã gửi đơn đến Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC44) - Công an tỉnh Quảng Nam tố cáo ông Trần Viết T lừa đảo bán cổ phần ảo nhằm chiếm đoạt tiền của Công ty M. Kết quả trả lời của cơ quan Cảnh sát điều tra (PC44) tại thông báo số 143/CV ngày 06/3/2015 khẳng định tính xác thực sở hữu cổ phần của ông T tại Công ty ĐTQ.

không

Người làm chứng bà Đoàn Thị S trình bày:

Bà Đoàn Thị S là cổ đông sáng lập Công ty ĐTQ sở hữu 300.000 cổ phần, chiếm tỷ lệ 22,74% trên tổng vốn điều lệ. Từ năm 2013, bà đã chuyển nhượng toàn bộ số cổ phần trên cho Công ty M. Ngày 30/01/2013 tại Văn phòng Công ty ĐTQ, bà Đoàn Thị S với chức danh giám đốc đã tiến hành bàn giao con dấu của Công ty ĐTQ cho cổ đông mới là Công ty M đại diện là ông Trần Quốc B và bà Trần Thị Phương L1 nhận con dấu.

Về việc cổ đông Trần Viết T và Võ Thị Ng1 góp vốn vào Công ty là có thật, việc góp vốn của các cổ đông đều có chứng từ và ghi vào sổ kế toán Công ty. Công ty ĐTQ đã được các cơ quan có thẩm quyền thẩm định và Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Quảng Nam cũng đã có xác nhận là có thật. Các sổ sách chứng từ của Công ty ĐTQ đã được bàn giao cho Công ty M do ông Trần Quốc B làm đại diện, do vậy những chứng từ, sổ sách hiện nay còn hay mất thì bà không rõ. Ông Trần Quốc B cũng đã làm đơn tố cáo với Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an tỉnh Quảng Nam cáo buộc các cổ đông Công ty ĐTQ bán cổ phiếu ảo, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã vào cuộc điều tra và kết luận “Không có dấu hiệu hình sự” và “việc góp vốn của các cổ đông đều c chứng từ và th hiện qua s sách kế toán đã được cơ quan có th m quyền th m định, nên không c việc các cổ đông Công ty ĐTQ dựng lên cổ phần ảo để chuyển nhượng... ”.

Người làm chứng ông Nguyễn Đức C trình bày:

Công ty ĐTQ thành lập năm 2009 có 3 thành viên gồm bà Đoàn Thị S, ông Nguyễn Đức C và bà Đinh Thị Ng, sau đó có bổ sung thêm cổ đông mới là Lê Thị Thúy H1, Trần Viết T, Võ Thị Ng1 và Nguyễn Văn Tr, sau đó ông Tr và bà H1 rút vốn còn lại 5 cổ đông. Năm 2013, các cổ đông thống nhất bán hết cổ phần cho Công ty M, nhưng do Công ty M không tiền chuyển nhượng cổ phần nên xảy ra tranh chấp. Ông T khởi kiện và được Tòa án đã tuyên buộc Công ty M phải trả lại số cổ phần đã nhận chuyển nhượng của ông T. Cổ đông Trần Viết T và Võ Thị Ng1 góp vốn vào Công ty là có thật, việc góp vốn của các cổ đông đều có chứng từ và ghi vào sổ kế toán Công ty, đã được các cơ quan có thẩm quyền thẩm định và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Nam xác nhận là có thật. Các sổ sách chứng từ của Công ty ĐTQ đã được bàn giao cho Công ty M do ông Trần Quốc B làm đại diện, do vậy những chứng từ, sổ sách hiện nay còn hay mất thì ông C không rõ. Ông Trần Quốc B cũng đã làm đơn tố cáo với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Nam cáo buộc các cổ đông Công ty ĐTQ bán cổ phiếu ảo, lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã vào cuộc điều tra và kết luận “không có dấu hiệu hình sự” và “việc góp v n của c c c đông đều có chứng từ và thể hiện qua sổ sách kế toán đã được cơ quan có th m quyền th m định, nên không có việc các cổ đông Công ty ĐTQ dựng lên c phần ảo đ chuy n nhượng... ”.

Công ty ĐTQ

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 04/2017/KDTM-ST ngày 7 tháng 7 năm 2017, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam quyết định:

“Áp dụng Điều 126 Luật Doanh nghiệp năm 2014; điểm c khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 244 và Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.

1. Đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty cổ phần ĐTQ đối với yêu cầu không công nhận số cổ phần 280.600 Cổ phần tương đương 2.806.000.000 đồng của ông Trần Viết T và tuyên bố hợp đồng chuyến nhượng cổ phần giữa ông Trần Viết T và bà Nguyễn Thị Tuyết N vô hiệu. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu trên theo quy định của pháp luật.

2. Đình chỉ giải quyết phần yêu cầu của ông Trần Viết T đối với yêu cầu buộc Công ty cổ phần ĐTQ đăng ký với Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam 160.000 cổ phần ông T đã nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Tuyết N.

3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Viết T đối với Công ty cổ phần ĐTQ.

Buộc Công ty cổ phần ĐTQ thực hiện đăng ký các thông tin về người nhận chuyển nhượng cổ phần vào sổ đăng ký cổ đông của Công ty cổ phần ĐTQ cho ông Trần Viết T đối với 160.000 cổ phần nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Tuyết N.”

Ngày 25/07/2017, Công ty Cổ phần ĐTQ kháng cáo bản án sơ thẩm.

Công ty ĐTQ

kháng cáo

kháng cáo như sau:

-

T trong

o

o

o

ĐTQ : 287.600 CP

o Theo biê

o

-

T

ĐTQ

không

T

bà Nguyễn Thị Tuyết N

k

T không

Ô

T

Công ty

Công ty G

Công ty không

Công ty

. Công ty M

Công ty ĐTQ không

Ô

L

Công ty ĐTQ theo

-

đông Công ty ĐTQ 28/9/2015

ng H2

Công ty ĐTQ không L

Công ty ĐTQ

-

,

L không

t

Công ty ĐTQ

.

Do

, [1]

Công ty ĐTQ

S

Công ty.

Công ty ĐTQ

H2

Công ty.

[2] Điều 148

Doanh nghiệp

“1. Các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông có hiệu lực kể từ ngày được thông qua hoặc từ thời điểm hiệu lực ghi tại nghị quyết đó.

2. Các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông được thông qua bằng 100% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết là hợp pháp và có hiệu lực ngay cả khi trình tự và thủ tục thông qua nghị quyết đó không được thực hiện đúng như quy định.

3. Trường hợp có cổ đông, nhóm cổ đông yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông theo quy định tại Điều 147 của Luật này, thì các nghị quyết đó vẫn có hiệu lực thi hành cho đến khi Tòa án, Trọng tài có quyết định khác, trừ trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.” [3]

Công ty ĐTQ 28/9/2015 không

Tòa án

.

nghĩa vụ

Điều 31

Doanh nghiệp.

nghĩa vụ doanh nghiệp, Công ty ĐTQ

L Tòa án

pháp luật N

Công ty ĐTQ

. [4]

7 Điều 13

“7. Trong một số trường hợp đặc biệt, Tòa án có thẩm quyền có quyền chỉ định người đại diện theo pháp luật trong quá trình tố tụng tại Tòa án.” [5]

thẩm quyền “một số trường hợp đặc b

. Tòa án

“

” Tòa án chỉ định người đại diện theo pháp luật trong quá trình tố tụng tại Tòa

Công ty ĐTQ trong

y

3 Điều 7

h nghiệp Công ty

.

ra

-

L

c Công ty ĐTQ

pháp luật.

L

kháng cáo

Công ty ĐTQ không

pháp. [6]

. [7]

T Công ty ĐTQ

Công ty

Công ty

.

T

N. B

08/02/2014

T

Công ty ĐTQ ghi

quyền

T

Công ty ĐTQ.

: “Buộc Công ty cổ phần ĐTQ thực hiện đăng ký các thông tin về người nhận chuyển nhượng cổ phần vào sổ đăng ký cổ đông của Công ty cổ phần ĐTQ cho ông Trần Viết T đối với 160.000 cổ phần nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Tuyết N [8] Công ty ĐTQ không

T

N, do:

T

không

1.000.000đ ông T

hợp đồng

T

N

Công ty ĐTQ nêu trên

. [9]

ong

, K

Công an tỉnh Quảng Nam

đương sự,

nên

tuyên

k

nguyên đơn

[10] Do

, [11] Công ty ĐTQ không

.

Căn cứ

3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

số 04/2017/KDTM-ST ngày 7 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

.

00đ cho Công ty

ĐTQ

biên lai số 0000032 ngày 4/8/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam.

Cỡ chữ