vanban.org

Bản án 09/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 22/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Hoàng H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 100 Bộ luật Hình sự
TAND THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 09/2018/HSST.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày: 22/1/2018.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG H1XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ - TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà: Chung Kim Sang.

2. Ông: Lương Minh Bôn.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tú – Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Rạch Giá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Rạch Giá, tham gia phiên tòa: Ông: Nguyễn Thanh Giang – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2018/HSST ngày 04/1/2018 đối với bị cáo:

Đặng Hoàng H – Sinh ngày: 09/1/2000 (Qua giám định có độ tuổi từ 16 năm 06 tháng đến 17 tuổi), tại Rạch Giá - Kiên Giang. Nơi ĐKTT: Số 12/20 Võ Thị S , phường Vĩnh Th , Tp. Rạch G, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở: Số 12/20 Võ Thị S , phường Vĩnh Th , Tp. Rạch G, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: Không biết chữ, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Thanh D và bà Đặng Thị H ; Tiền sự: Chưa; Tiền án: Chưa. Bị cáo được tại ngoại. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa chỉ trên.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa: Bà Dƣơng Thị T – Trợ giúp Viên pháp lý Nhà nước tỉnh Kiên Giang, do Trung tâm trợ giúp Pháp lý Nhà nước tỉnh Kiên Giang, giới thiệu tham gia bào chữa cho bị cáo (Có mặt).

* Người đại diện giám hộ hợp pháp cho bị cáo: Bà Trƣơng Thị T1(Bà ngoại bị cáo) – Sinh năm: 1964. (Có mặt)

Trú tại: Số 12/20 Võ Thị S , phường Vĩnh Th , Tp. Rạch G, tỉnh Kiên Giang.

* Người bị hại: Ông Nguyễn Văn C – Sinh năm: 1984. (Có mặt)

Trú tại: Số 12 Võ Thị S , phường Vĩnh Th , Tp. Rạch G, tỉnh Kiên Giang.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị Hồng G – Sinh năm: 1992. (Có mặt)

Trú tại: Số 12 Võ Thị S , phường Vĩnh Th , Tp. Rạch G, tỉnh Kiên Giang.

* Những người làm chứng:

1/- Ông Trần Hữu Đ – Sinh năm: 1980. (Vắng mặt)

Trú tại: Số 12/11 Võ Thị S , phường Vĩnh Th , Tp. Rạch G, tỉnh Kiên Giang.

2/- Ông Trần Hữu H1– Sinh năm: 1980. (Vắng mặt)

Trú tại: Số 12/11 Võ Thị S , phường Vĩnh Th , Tp. Rạch G, tỉnh Kiên Giang.

3/- Cháu Nguyễn Phi H2– Sinh năm: 2011. (Vắng mặt)

Trú tại: Số 12/11 Võ Thị S , phường Vĩnh Th , Tp. Rạch G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ, ngày 26/5/2017, Đặng Hoàng H đi bộ từ nhà đến tiệm Internet “MT”, số 12 Võ Thị Sáu, phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá của anh Nguyễn Văn C để chơi game. Khi đến, H chơi game tại bàn số 17. Lúc này, H nảy sinh ý định trộm bộ máy vi tính bàn số 18 của anh Cảnh, đem bán lấy tiền tiêu xài. Quan sát thấy người quản lý tiêm game là chị Võ Thị Hồng G không để ý, H lén lút rút chui điện bộ máy vi tính đang để tại bàn số 18, lấy trộm 01 màng hình máy vi tính nhãn hiệu AOC, 21 in, màu đen; 01 đầu CPU có chữ VISION GAMINH CASE; 01 bàn phím máy vi tính màu đen đem về nhà của H cất giấu. Sau đó, chị G phát hiện bị mất tài sản nên đến Công an phường Vĩnh Thanh trình báo sự việc. Công an phường đến mời H làm việc, H trốn qua nhà Trần Hữu H1ở số 12/11 Võ Thị Sáu, phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá. Sau đó, H1điện báo cho anh là Trần Hữu Đ biết sự việc, Đ về và kêu H chỉ nơi giấu tài sản trộm được, lấy trả lại cho chị G và chị G đã giao nộp cho Công an phường Vĩnh Thanh xử lý. Đến ngày 28/7/2017, Đặng Hoàng H bị Cơ quan C sát điều tra – Công an thành phố Rạch Giá khởi tố và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, nhưng bị can bỏ trốn và bị truy nã; ngày 09/10/2017, ra đầu thú

* Vật chứng thu giữ:

- 01 màn hình máy vi tính nhãn hiệu AOC, 21 in màu đen;

- 01 đầu CPU có chữ VISION GAMINH CASE;

- 01 bàn phím máy vi tính để bàn màu đen, tất cả đã trả cho chủ sở hữu (Bút lục số: 90). *Tại bản kết luận giám định tài sản số: 82 ngày 20/6/2017 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Rạch Giá kết luận: 01 màng hình máy vi tính nhãn hiệu, AOC, 21 in màu đen; 01 đầu CPU có chữ VISION GAMINH CASE; 01 bàn phim máy vi tính để bàn màu đen, có giá trị 3.100.000 đồng.

*Tai bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số: 431, ngày 21/7/2017, tại thời điểm ngày 26/5/2017, Đặng Hoàng H có độ tuổi là: Từ 16 năm 06 tháng đến 17 năm .

* Về phần trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn C đã nhận lại toàn bộ tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Tại bản Cáo trạng số: 12/KSĐT – KT ngày 02/1/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Rạch Giá đã truy tố bị cáo Đặng Hoàng H về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Vào khoảng 10 giờ ngày 26/5/2017, tại tiệm Internet “MT”, số 12 Võ Thị Sáu, phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá, Đặng Hoàng H do muốn có tiên tiêu xài nên đã lén lút trộm cắp của anh Nguyễn Văn C 01 màn hình máy vi tính nhãn hiệu AOC, 21 in; 01 đầu CPU có chữ VISION GAMINH CASE; 01 bàn phím máy vi tính, có giá trị là 3.100.000 đồng. Sau đó, H bị phát hiện và giao nộp lại vật chứng. Do đó, Vị đại Viện kiểm sát quyết định giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đặng Hoàng H về tội “Trộm cắp tài sản”. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện tội phạm lỗi cố ý, thực hiện hành vi rất liều lĩnh. Với bản chất tham lam và nhanh muốn có tiền tiêu xài mà không cần pH lao động vất vả, từ đó bị cáo đã nghĩ ra cách kiếm tiền nhanh chóng bằng hành vi trộm cắp tài sản của người khác, trong vụ án này bản thân bị cáo đã lấy 02 chiếc xe của các bị hại rồi đem bán lấy tiền tiêu xài thỏa thích mà không nghĩ đến hành vi đã gây ra. Bị cáo biết và nhận thức được tài sản hợp pháp của công dân luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, bất kì ai có hành vi xâm phạm trái phép đều xử lý nghiêm. Vì vậy, cần pH xử lý nghiêm bị cáo để răn đe. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi sai trái của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, một phần tài sản đã thu hồi trả bị hại...Đề nghị HĐXX:

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015, điểm h và p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 69, Điều 74 và Điều 31 BLHS năm 1999: khoản 3 Điều 7 và Điều 91 và Điều 100 BLHS năm 2015, Nghị Quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Công văn số 276/TANDTC ngày 13/9/2016 của TANDTC .

* Xử phạt: Bị cáo Đặng Hoàng H – Mức án 12 tháng cải tạo không giam giữ.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn C đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu gì nên đề nghị HĐXX không xét.

* Tại phiên tòa bà Dương Thị T phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo rằng:

- Thống nhất Cáo trạng truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 BLHS, thống nhất, mức án mà Viện kiểm sát đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo mức án như trên là phù hợp, bởi:

Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội khi chưa thành niên, một phần tài sản thu hồi trả lại bị hại, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có hoàn C rất khó khăn...Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng điểm h và p khoản 1 Điều 46, Điều 69, Điều 74 và Điều 47 BLHS xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt như đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật cũng đủ nghiêm

Bị cáo H nói lời nói sau cùng: Thưa HĐXX bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ;

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiền hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo đã phù hợp với nội dung Cáo trạng, kết luận điều tra, lời khai người bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm tội "Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 BLHS là đúng người, đúng tội.

Xét tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thưc được việc "Trộm cắp tài sản" của người khác là vi phạm pháp luật, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà không cần pH lao động bằng chính khả năng sức lao động của mình, từ đó bị cáo bất chất pháp luật lao vào con đường phạm tội bằng hành vi "Trộm cắp tài sản" của người khác một cách trái pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp không những xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân mà còn gây căm phẫn, bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương. Xét tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội...Do vậy, đứng trước phiên tòa hôm nay, bị cáo pH chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mình đã gây ra. HĐXX thiết nghĩ cần tuyên cho bị cáo mức án tương xứng tính chất hậu quả hành vi bị cáo đã gây nên, đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, mới đủ tính giáo dục, cải tạo bị cáo trở nên một công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Xét về tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội khi chưa thành niên, tài sản thu hồi trả lại hại, bị có có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự...Vì vậy, áp dụng điểm h và p khoản 1 Điều 46, Điều 69, Điều 74 và Điều 47 BLHS xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt cũng đủ nghiêm.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại các điểm h và p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47, Điều 69, Điều 74 BLHS làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là phù hợp như HĐXX nhận định trên.

Xét đề nghị của trợ giúp viên bào chữa cho bị cáo, đề nghị HĐXX cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại các điểm h và p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47, Điều 69, Điều 74 BLHS làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 BLHS và Điều 76 BLTTHS:

- 01 (một) màng hình máy tính nhãn hiệu AOC, 21 in màu đen

- 01 (một) đầu CPU có chữ VISON GAMINH CASE.

- 01 (một) bàn phím máy vi tính để bàn màu đen.

(Tất cả đã trao trả chủ sở hữu) nhãn hiệu AOC, 21 in màu đen

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 138 BLHS quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng"

Hội đồng xét xử xét thấy hoàn C kinh tế của bị cáo đang gặp nhiều khó khăn, bản thân là người chưa thành niên nên miễn trừ thu nhập gia C cũng như hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, Cơ quan Điều tra Công an Thành phố Rạch Giá đã thu hồi tất cả tài sản trả lại cho ông Nguyễn Văn C không yêu cầu gì, ông C không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 199 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo pH nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Hoàng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm h và p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 69, Điều 74 và Điều 31 BLHS năm 1999: khoản 3 Điều 7 và Điều 91 và Điều 100 BLHS năm 2015, Nghị Quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Công văn số 276/TANDTC ngày 13/9/2016 của TANDTC.

* Xử phạt: Bị cáo Đặng Hoàng H – 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thời gian tạm giam trước từ ngày 09/10/2017 đến ngày 12/10/2017. Thời hạn cải tạo được tính từ ngày các cơ quan tổ chức nhận quyết định bản án của Tòa án.

- Giao bị cáo cho UBND Phường Vĩnh Thanh giám sát giáo dục trong thời gian cải cạo.

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 199 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo pH nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, người bị hại, người liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 22/01/2018).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ