vanban.org

Bản án 09/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 06/02/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

sự năm 2015 đã Đ sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày

20/6/2017 của Quốc Hội ; Tuyên bố bị cáo Võ Nguyễn Việt H (X) phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? sự năm 2015 đã Đ sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 09/2018/HS-ST
Ngày 06/02/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Chân

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Huỳnh Văn H2 – Trường phòng Dân tộc thành phố Châu Đốc.

- Bà Trần Thị ánh H3 – Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

phường Châu Phú A.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tâm .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên

tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố

Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2018/TLST-

HS ngày 09 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

12/2018/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

Võ Nguyễn Việt H (X), sinh ngày 22 tháng 3 năm 1998. tại Châu Đốc, An

Giang. Nơi cư trú: tổ 01, khóm T, phường G, thành phố D, tỉnh An Giang; nghề

nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;

tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Việt H1 và bà Nguyễn Thị

M; chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: từ nhỏ sống chung cha

mẹ. Học hết lớp 8 thì nghỉ, sống bằng nghề làm thuê; bị cáo tại ngoại có mặt tại

phiên tòa.

- Người đại diện cho bị hại: Bà Bùi Thị H2, sinh năm 1968, nơi cư trú: tổ 3,

khóm H, phường N, TP. D, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Em Thái Công Kh, sinh ngày 08/9/2001, nơi cư trú: tổ 01, khóm T,

phường G, TP D, tỉnh An Giang, (có mặt).

2. Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1982, nơi cư trú: tổ 01, khóm T, phường G,

thành phố D, tỉnh An Giang, (có mặt).

3. Ông Thái Công Kh1, sinh năm 1979, nơi cư trú: tổ 01, khóm T, phường

G, thành phố D, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

4. Bà Thái Thị B, sinh năm 1970, nơi cư trú: tổ 01, khóm T, phường G,

thành phố D, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

5. Bà Vũ Thị Thu H3, sinh năm 1972, nơi cư trú: tổ 01, khóm T, phường G,

thành phố D, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

6. Bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1993, nơi cư trú: tổ 07, khóm T, phường N,

thành phố D, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

7. Bà Trương Thị H5, sinh năm 1970, nơi cư trú: tổ 06, khóm T, phường N,

thành phố D, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

8. Ông Bùi Văn Đ, sinh năm 1975, nơi cư trú: tổ 01, khóm H, phường N,

thành phố D, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

9. Ông Bùi Thanh Tr, sinh năm 1990, nơi cư trú: tổ 06, khóm T, phường N,

thành phố D, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

10. Ông Bùi Thanh T, sinh năm 1987, nơi cư trú: tổ 06, khóm T, phường N,

thành phố D, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

11. Ông Bùi Quốc Th, sinh năm 1992, nơi cư trú: tổ 03, ấp Hòa Tây A, xã

Phú Thuận, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án Đ tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ ngày 19/3/2017, H và Kh đi ngang nhà ông Võ Văn H2 tại tổ

01, khóm Châu Thới 2, phường Châu Phú B (nhà ở gần nhau). Khi này, H thấy ông H2 chuẩn bị đi chợ bán hàng, trong nhà không có người trông giữ nên nảy sinh ý định trộm và rủ Kh cùng thực hiện, Kh đồng ý. Đợi sau khi ông H2 đi khỏi nhà, H và Kh mở cửa hàng rào đi vào trước cửa nhà và tìm thấy chìa khóa nhà của ông H2 giấu trên bàn thờ ông Thiên. H và Kh mở cửa nhà, đi vào bên trong tìm tài sản. Kh tìm trong tủ nhựa, thấy có một túi xách (để trong bọc nylon phía trên Đ đậy bằng cái nón tay bèo), bên trong túi có nhiều xấp tiền Việt Nam đồng. Kh, H lấy tiền cất giấu trong người, sau đó đếm Đ 99.000.000 đồng. Riêng, túi xách, bọc nylon, nón tai bèo, khăn vải, Kh ném bỏ ở bãi đất trống phía thuộc khu tổ 6, khóm 7, phường Châu Phú A.

Sau khi lấy trộm, Kh đưa cho H nhiều lần bằng 10.000.000 đồng để H tiêu xài

cho cá nhân, cho ông Kh1 và bà H3 (cha, mẹ của Kh) số tiền 5.000.000 đồng, trả

cho bà Nguyễn Thị H4 1.500.000 đồng, bà Trương Thị H5 200.000 đồng, bà Vũ

Thị Thu H3 1.200.000 đồng, gửi bà Thái Thị B 25.000.000 đồng, chuộc chiếc xe

biển số 67AM-012.74 do ông Kh1 mượn của Bùi Quốc Th số tiền 4.375.000 đồng,

số còn lại Kh và H sang gò Tà Mâu-CamPuChia đánh bạc, trả nợ và tiêu xài cho cá

nhân. Kh mang xe trên đến cầm cho ông Đ và đã lấy lại số tiền gửi bà B rồi tiêu

xài hết.

Riêng ông H2 sau khi phát hiện mất trộm, đến công an phường Châu Phú B

trình báo. Hiện, gia đình của Kh và H đã trả cho gia đình ông H2 45.500.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu HALIM-KREA, biển số 67AM-012.74, màu sơn đen-

bạc; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô số 026006 mang tên Trần Ngọc Đại; 01

chứng minh nhân dân mang tên Bùi Thanh Tr; 01 giấy chứng minh nhân dân mang

tên Thái Công Kh1 do ông Bùi Thành Đ giao nộp;

- 01 túi xách màu xám có dây đeo màu trắng, ngang 30cm, cao 20cm; 01 nón

tai bèo rằn ri (loại nón bộ đội); 01 cái khăn sọc ca rô đỏ, trắng, đen, ngang 80cm,

rộng 30cm.

Ngày 20/9/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Châu Đốc

ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, ra quyết định khởi tố các bị can Võ Nguyễn

Việt H (X) và lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

Ngày 27/9/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc ban hành các

Quyết định số 83/QĐ-VKS-HS phê chuẩn quyết định khởi tố bị can Võ Nguyễn

Việt H (X).

Tại Cơ quan Điều tra, các bị cáo H khai nhận có cùng Thái Công Kh thực

hiện hành vi lén lúc đột nhập vào nhà ông H2 lấy trộm số tiền 99.000.000 đồng và

sử dụng số tiền như nội dung vụ án nêu trên.

Người bị hại ông H2 và bà Hân khai phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.

Ngoài ra ông H2 còn cho biết số tiền ông bị mất trộm là 100.000.000 đồng. Hiện

ông H2 đã chết, bà Hân (vợ ông H2) đã nhận lại số tiền bồi hoàn từ người thân của

H và Kh là 45.500.000đồng, yêu cầu xử lý hình sự đối với Kh, H và bồi thường

thêm 54.500.000 đồng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Kh khai nhận hành vi cùng với H

lấy trộm tài sản tại nhà ông H2 và tiêu xài số tiền trên phù hợp với nội dung vụ án

đã nêu. Kh trình bày thêm: Kh còn dùng số tiền lấy trộm để mua 01 điện thoại hiệu

Samsung J7 6.000.000 đồng, mua 01 dây chuyền vàng giá 13.769.800 đồng, nH

sau khi đánh bài thua đã cầm điện thoại và dây chuyền tại gò Tà Mâu-Campuchia

lấy tiền đánh bạc. Ngoài ra, Kh còn sử dụng số tiền trộm Đ để cùng với H, Nh, Tr,

Tuấn uống rượu và tiêu xài cho cá nhân hết.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Các ông, bà Kh1, H3 (cha, mẹ

của Kh), H4, H5, H3, Th, Nh, B đều trình bày phù hợp nội dung vụ án. Khi nhận tiền, các ông, bà không biết do Kh lấy trộm mà có và đã tiêu xài cá nhân hết; Nh đã trả lại cho Kh 6.500.000 đồng; Ngoài số tiền Kh gửi, bà B còn nhận 150.000 đồng do Kh trả nợ cho bà B. Ngoài ra, ông Kh1, bà H3 đã trả số tiền nhận Đ từ Kh đưa và khắc phục hậu quả cho bà Hân số tiền 36.000.000 đồng và đồng ý bồi thường số tiền còn lại.

Bà Mai (mẹ của H) trình bày không biết sự việc H trộm cắp tài sản. Hiện bà

đã bồi thường cho người bị hại số tiền 9.500.000 đồng.

Ông Tr, Tuấn trình bày phù hợp với lời khai của Kh.

Ông Đ trình bày: Khoảng 16 giờ ngày 20/3/2017, Kh đến tiệm cầm đồ Út Tỷ

của ông Đ để chuộc xe mô tô biển số 67AM-012.74 do ông Kh1 cầm trước đó với số tiền 4.375.000 đồng. Sau đó, Kh mang xe mô tô trên cùng với ông Tr đến tiệm cầm đồ của ông cầm lại 4.000.0000 đồng. Ông không biết nguồn gốc tiền Kh chuộc xe do trộm cắp mà có. Hiện ông giao nộp xe mô tô trên cho Công an, ông yêu cầu Kh bồi thường lại cho ông số tiền 4.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 14/VKS-HS.TA ngày 08 tháng 01 năm 2018, Viện

kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Võ Nguyễn Việt H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự đã Đ sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội cùng với Kh như nội dung

Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu

thành tội “Trộm cắp tài sản” Đ quy định tại điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo như Cáo trạng.

Hành vi phạm tội của bị cáo Đ thực hiện với lỗi cố ý, thể hiện sự xem

thường pháp luật, không những câm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý lo sợ bị mất tài sản trong nhân dân. Do đó, cần phải có mức hình tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Đối với bị cáo H, khi phát hiện nhà ông H2 không có người trông giữ đã nảy

sinh ý định trộm cắp tài sản và đã rủ Kh cùng thực hiện hành vi phạm tôi khi Kh chưa đủ 18 tuổi, do đó H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 BLHS.

Bên cạnh đó, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành

khẩn khai báo, bị cáo tích cực tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị

hại, nên đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1

Điều 51 BLHS khi lượng hình.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản

1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm

2015 đã Đ sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày

20/6/2017 của Quốc Hội, xử phạt bị cáo từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù về

tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt bổ sung, do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên đề nghị

không áp dụng đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng các Điều 46, 47 BLHS năm 2015 đã Đ sửa

đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 BLTTHS năm 2015.

- Trả lại 01 xe máy, biển số 67AM-012.74 cùng chứng nhận đăng ký xe cho

ông Bùi Quốc Th; 01 giấy chứng minh nhân dân tên Bùi Thanh Tr và 01 giấy

chứng minh nhân dân tên Thái Công Kh1;

- Tịch thu tiêu hủy 01 túi xách màu xám có dây đeo màu trắng, ngang 30cm,

cao 20cm; 01 nón tai bèo rằn ri (loại nón bộ đội); 01 cái khăn sọc ca rô đỏ, trắng,

đen, ngang 80cm, rộng 30cm.

Về trách nhiệm dân sự: đề nghị áp dụng các Điều 46, 48 BLHS đã Đ sửa

đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 BLTTHS năm 2015; Điều 584, 585, 586, 587,

589 BLDS năm 2015 buộc bị cáo Võ Nguyễn Việt H và người có quyền lợi và

nghĩa vụ liên quan em Thái Công Kh cùng (cha ông Kh1, bà H3) có trách nhiệm

liên đới bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại 53.500.000 đồng. Riêng Kh

cùng (ông Kh1, bà H3) còn có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông Đ

4.000.000 đồng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã Đ thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào

kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý

kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về tố tụng:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã Đ Tòa án tống đạt hợp lệ giấy

triệu tập và có lời khai trong giai đoạn điều tra nên sự vắng mặt tại phiên tòa không

gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng

hình sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan và người làm chứng.

Về nội dung,

Đối cH2 lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của người bị hại,

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp nhau về diễn biến, thời gian và hành vi bị cáo đã thực hiện. Cụ thể,

Số tiền 100.000.000 đồng, số tiền này do ông H2 dành dụm cất giữ để trong

nhà và bị mất trộm.

Sau khi hành vi của H (X) và Kh bị phát hiện, gia đình của Kh đã bồi thường

lại cho bà Hân số tiền 36.000.000 đồng, gia đình của X bồi thường Đ 9.500.000 đồng. Bà Hân có yêu cầu xử lý hình sự các đối tượng đã trộm cắp và buộc gia đình các đối tượng phải bồi thường số tiền còn lại là 53.500.000 đồng.

Các ông, bà Kh1, H3 (cha, mẹ của Kh), H4, H5, H3, Th, Nh, B, Tr và Tuấn

đều trình bày phù hợp nội dung vụ án. Khi nhận tiền, các ông, bà không biết do Kh lấy trộm mà có và đã tiêu xài cá nhân hết; Nh đã trả lại cho Kh 6.500.000 đồng; Ngoài số tiền Kh gửi, bà B còn nhận 150.000 đồng do Kh trả nợ cho bà B.

Ông Kh1, bà H3 đã trả số tiền nhận Đ từ Kh đưa và khắc phục hậu quả cho

bà Hân số tiền 36.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị M (mẹ của H) trình bày không biết sự việc H trộm cắp tài sản. Hiện bà đã bồi thường cho người bị hại số tiền 9.500.000 đồng và đều đồng ý bồi thường số tiền còn lại cho người bị hại do bà Hân làm đại diện.

Ngoài ra, lời khai của bị cáo còn phù hợp với vật chứng bị thu giữ. Từ đó, có

căn cứ xác định bị cáo cùng với Kh đã lợi dụng sơ hở của ông H2 trong quản lý tài sản, lén lút chiếm đoạt số tiền 99.000.000 đồng.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ

hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nH vẫn cố ý thực hiện, xâm phạm trực tiếp đến quan hệ sở hữu tài sản Đ pháp luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, đã Đ sửa đổi, bổ sung năm 2009 như nội dung cáo trạng truy tố.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn

khai báo, tài sản chiếm đoạt đã người thân của bị cáo và Kh khắc phục một phần hậu quả nên có xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, không có nghề nghiệp ổn định, xét

không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với Kh, do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên không khởi tố và

truy tố là phù hợp pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự, người bị hại yêu cầu bị cáo và ông Kh1, bà H3 (là

cha, mẹ của Kh) phải có trách nhiệm bồi thường số tiền còn lại là 53.500.000 đồng, yêu cầu này của người bị hại phù hợp pháp luật, xét chấp nhận.

Về xử lý vật chứng :

- 01 xe mô tô nhãn hiệu HALIM-KREA, biển số 67AM-012.74, màu sơn

đen-bạc; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô số 026006 mang tên Trần Ngọc Đại do

ông Bùi Quốc Th mua lại và cho ông Kh1 (cha vợ) mượn sử dụng, do ông Bùi

Thành Đ giao nộp, xét thấy chiếc xe mô tô không liên quan đến vụ án nên hoàn trả

lại cho ông Th.

- 01 giấy chứng minh nhân dân tên Bùi Thanh Tr và 01 giấy chứng minh

nhân dân tên Thái Công Kh1, đây là giấy tùy thân của các ông, xét giao trả lại cho

ông Tr và ông Kh1

- Đối với các tài sản: 01 túi xách màu xám có dây đeo màu trắng, ngang

30cm, cao 20cm; 01 nón tai bèo rằn ri (loại nón bộ đội); 01 cái khăn sọc ca rô đỏ,

trắng, đen, ngang 80cm, rộng 30cm của ông H2 (đã chết), bà Hân (vợ ông H2),

không có yêu cầu nhận lại, nên tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, s

khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình

sự năm 2015 đã Đ sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày

20/6/2017 của Quốc Hội ;

Tuyên bố bị cáo Võ Nguyễn Việt H (X) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Võ Nguyễn Việt H (X): 02 (hai) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo Đ tính kể từ ngày bắt bị cáo chấp

hành án.

Căn cứ vào Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 Bộ luật Hình sự năm

2015 đã Đ sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015;

Buộc bị cáo H (X) và em Thái Công Kh cùng ông Thái Công Kh1, bà

Nguyễn Thị H3 (là cha, mẹ của Kh) phải có trách nhiệm bồi thường số tiền là

53.500.000 đồng cho bà Bùi Thị H2.

Hoàn trả cho ông Bùi Quốc Th 01 xe mô tô nhãn hiệu HALIM-KREA, biển

số 67AM-012.74, màu sơn đen-bạc; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô số 026006

mang tên Trần Ngọc Đại.

Hoàn trả cho ông Bùi Thanh Tr 01 giấy chứng minh nhân dân và ông Thái

Công Kh1 01 giấy chứng minh nhân dân.

Tịch thu tiêu hủy: 01 túi xách màu xám có dây đeo màu trắng, ngang 30cm,

cao 20cm; 01 nón tai bèo rằn ri (loại nón bộ đội); 01 cái khăn sọc ca rô đỏ, trắng, đen, ngang 80cm, rộng 30cm.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 12 năm 2017 giữa Cơ

quan Điều tra - Công an thành phố Châu Đốc với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, 333, 337 Bộ luật Tố tụng hình

sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Võ Nguyễn Việt H (X) phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng

án phí hình sự sơ thẩm và 816.000 (tám trăm mười sáu nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Thái Công Kh1, bà Nguyễn Thị H3 (là cha, mẹ của Kh) phải chịu

816.000 (tám trăm mười sáu nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng

bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người bị hại, các người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người đại diện hợp pháp) có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của người bị hại vắng mặt tại phiên tòa Đ tính là

15 ngày kể từ ngày bản án Đ giao hoặc Đ niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định Đ thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người Đ thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án Đ thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ