- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Bùi Văn C bị truy tố xét xử về tội: Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điề…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn C phạm tội: “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY TỈNH HÒA BÌNH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09 /2018/HS-ST Ngày: 18/6/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn văn Chung, bà Nguyễn Thị Thanh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hường- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: ông Đàm Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 6 năm 2018 tại: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2018/TLST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2018/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2018 đối với:
1. Bị cáo Bùi Văn C, sinh 13/10/ 1988, tại: huyện Y, tỉnh Hòa Bình
Nơi cư trú: Xóm B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hòa Bình;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12;
Dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam
con ông: Bùi Văn V và bà: Bùi thị Q;
Vợ: Bùi Thị Bích V
Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con bé sinh năm 2016
Tiền án: không; tiền sự: không;
Tạm giữ, tạm giam: không. ( bị cáo có mặt tại phiên toà )
2. Người bị hại
- anh Đặng Văn Đ, sinh ngày 14/05/1977 (đã chết)
Địa chỉ: thôn Đ, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội
3. Người đại diện theo pháp luật của người bị hại: anh Đặng Văn D - sinh 1980
Địa chỉ: thôn Đ, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội
( có mặt tại phiên toà ).
4. Người làm chứng
- anh Lê Xuân C - sinh năm 1966
Địa chỉ: Khu Đ, thị trấn T, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
(vắng mặt tại phiên toà )
- anh Đỗ Khắc B - sinh năm 1959
Địa chỉ: thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình
( vắng mặt tại phiên toà ).
5. Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa:
- Một giấy phép lái xe hạng A1 số AA 963250 mang tên Bùi Văn C.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/4/2018).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ sáng ngày 18/12/2017, Bùi Văn C điều khiển xe mô tô BKS 28F1- 000.69 từ nhà đi hướng Y - X, khi đến km 463+300 đường H thuộc địa phận thôn T – xã P – huyện L – tỉnh Hòa Bình, do phía trước có một xe tải đi ngược chiều bật đèn sáng nên C không làm chủ tay lái, không quan sát và giữ khoảng cách an toàn nên đã đâm vào phía sau, bên trái xe mô tô đi cùng chiều liền phía trước mang BKS 33N4-3306 do anh Đặng Văn Đ, sinh năm 1977, HKTT tại thôn Đ – xã A – huyện M –thành phố Hà Nội điều khiển, làm cả hai xe bị đổ, gây tai nạn, hậu quả, anh Đ và C đều bị thương, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện K, tỉnh Hòa Bình, đến 10h30 phút cùng ngày, anh Đ tử vong.
Quá trình khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường còn nguyên vẹn, nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông tại Km 463+300 đường H thuộc địa phận thôn T - xã P– huyện L – tỉnh Hòa Bình, là đoạn đường thẳng, mặt đường được trải nhựa áp phan bằng phẳng, không bị che khuất tầm nhìn, mặt đường rộng 8,20 m. Lấy hướng Y đi X là cơ sở để định hướng khám nghiệm hiện trường. Khu vực va chạm đầu tiên giữa hai xe được xác định là nằm bên phải đường có kích thước 1,08m x 0,82 m được ký hiệu là (01) trong sơ đồ hiện trường. Tâm vết (01) cách mép đường bên phải là 1,90 m.
Quá trình khám nghiệm phương tiện xe mô tô BKS 28F1 – 000.69 có các dấu vết để lại như sau: “Gương chiếu hậu bên phải xe mô tô bị vỡ rơi khỏi vị trí ban đầu, để lại cần gương bị lỏng, lệch khỏi vị trí ban đầu…phần nhựa bảo vệ phía trước xe mô tô bị vỡ, diện 22cm x 21 cm…Càng bánh xe phía trước bên phải xe mô tô có vết tỳ mài, bám sơn màu đỏ…Cánh yếm bên phải xe mô tô bị vỡ…Cần phanh của bánh sau bị cong chiều hướng từ trước về sau, từ trong ra ngoài, từ dưới lên trên… Đầu để chân phía trước bên phải xe mô tô bị cong gập chiều hướng từ trước về sau, phần cao su bị rách kích thước 09cm x 1,5cm…”.
Qua khám nghiệm phương tiện xe mô tô BKS 33N4-3306 có các dấu vết để lại: “Đầu tay nắm bên trái xe mô tô có vết tỳ mài diện 03cm x 02 cm, cách mặt đất 01m; Để chân phía trước bên trái xe mô tô bị cong gập, chiều hướng từ sau về trước. Phần nhựa cao su bị tỳ mài chiều hướng từ trước về sau có diện 02 cm x 02 cm, cách mặt đất 27cm; Để chân bên trái phía sau xe mô tô bị gẫy rơi khỏi vị trí ban đầu…Thanh kim loại gắn để chân bên trái phía sau xe mô tô bị lệch khỏi vị trí ban đầu, chiều hướng từ trong ra ngoài”..
Kết luận giám định pháp y số 217/GĐPY ngày 27/12/2017, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình xác định: “…Nạn nhân bị chấn thương vùng: cổ , lưng do tác động va đập với vật tày, rắn gây nên các tổn thương; gẫy đốt sống cổ và một số vết xây sát da trên cơ thể nạn nhân. Nạn nhân chết do chấn thương gẫy đốt sống cổ”.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) xe mô tô BKS 28F1- 000.69, nhãn hiệu Honda, màu sơn xám – đỏ
- đen; xe cũ, đã qua sử dụng; không kiểm tra bên trong;
- 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 sốAA 963250 mang tên Bùi Văn C .
- 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 000090 mang tên Bùi Văn C đối với xe mô tô BKS 28F1- 000.69;
- 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 số AU 818764 có giá trị đến ngày 26/4/2022 mang tên Bùi Văn C”
- 01 (một) xe mô tô BKS 33N4-3306, nhãn hiệu FOCOL, loại xe nữ, màu sơn đỏ, xe cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra bên trong;
- 01 (một) áo dài tay màu ghi, áo cũ, đã qua sử dụng;
- 01(một) áo dạng len mầu nâu đen, kẻ trắng, hai cánh tay áo cắt ngắn, áo cũ, đã qua sử dụng;
- 01 (một) áo dạng len, mầu nâu có hoa văn, cổ áo tròn, áo cũ, đã qua sử dụng;
- 01(một) quần dài màu đen, có sọc xanh hai bên ống quần, quần cũ đã qua sử dụng;
- 01 (một) quần bò ngố, cũ, màu xanh, đã qua sử dụng;
- 01(một) áo phông ngắn tay màu tím có hoa văn, cổ áo có khóa, áo cũ, đã qua sử dụng;
- 01 (một) quần bò màu ghi, quần cũ đã qua sử dụng;
- 01 (một) áo khoác, dạng phao, màu xanh đen, áo cũ, đã qua sử dụng;
- 01 (thắt lưng) màu nâu;
- 02 (hai) chiếc tất màu đen, có sọc trắng;
Quá trình điều tra bị cáo Bùi Văn C và gia đình đã hỗ trợ mai táng phí, bồi thường khắc phục hậu quả với tổng số tiền là: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Đại diện gia đình người bị hại đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và không có yêu cầu gì khác về dân sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Bùi Văn C nhận tội và thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình xảy ra vào hồi 05 giờ 00 phút sáng ngày 18/12/2017 tại km 463+300 đường H thuộc địa phận thôn T –xã P – huyện L – tỉnh Hòa Bình như Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy đã truy tố đối với bị cáo.
Đại diện theo ủy quyền của người bị hại: anh Đặng Văn D có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Bùi Văn C; gia đình đã nhận được tiền bồi thường từ phía bị cáo Bùi Văn C và không yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết về mặt dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX tuy ên bố bị cáo Bùi văn C phạm tội: “ vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. ; áp dụng khoản 1 điều 202 , điểm b, p khoản 1, khoản 2 điều 46; điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 xử phạt Bùi Văn C từ 12 đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.
Về Dân sự: không đề cập
Về vật chứng:
Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại cho bị cáo Bùi Văn C 01 giấy phép lái xe hạng A1 số AA 963250 mang tên Bùi Văn C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.
. Về hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Lời khai của bị cáo Bùi Văn C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trước cơ quan Cảnh sát điều tra và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Bị cáo Bùi Văn C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có giấy phép lái xe hạng A1; qua lời khai đã thẩm định tại phiên tòa và các chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện: Các dấu vết để lại theo biên bản khám nghiệm hiên trường ngày 18/12/2018 , biên bản khám nghiệm phương tiện xe mô tô BKS 28F1 – 000.69 và các dấu vết để lại tại biên bản khám nghiện xe mô tô BKS 33N4-3306 ngày 19/12/2017 xác định khi đến km 463+300 đường H thuộc địa phận thôn T – xã P – huyện L – tỉnh Hòa Bình do không tuân thủ các quy định của luật giao thông đường bộ, không làm chủ tay lái, không quan sát và giữ khoảng cách an toàn nên xe mô tô do bị cáo C điều khiển đã đâm vào phía sau, bên trái xe mô tô đi cùng chiều liền phía trước mang BKS 33N4-3306 do anh Đặng Văn Đ điều khiển vào hồi 05 giờ 00 phút ngày 18/12/2017, đã vi phạm vào khoản 1 điều 12 Luật giao thông đường bộ, hậu quả anh Đ tử vong vào hồi 10 giờ 30 phút cùng ngày, nguyên nhân tử vong do chấn thương gẫy đốt sống cổ (Tại bản kết luận giám định pháp y số 217/GĐPY của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình –Bút lục 15). Hành vi của bị cáo Bùi Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội: “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Xét về hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn C là nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp trật tự an toàn giao thông, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ cũng như tính mạng, sức khỏe, tài sản của nhân dân được pháp luật bảo hộ.
Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: trong quá trình sinh sống và lao động tại địa phương, bị cáo chưa bị xử phạt hành chính hay khởi tố, truy tố và xét xử về hành vi vi phạm pháp luật.Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo và gia đình đã tự nguyện khắc phục hậu quả và bồi thường cho gia đình người bị hại, đại diện gia đình người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, p khoản 1 và khoản 2 điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng cần có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, nhưng xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; bản thân bị cáo bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và để bị cáo có thời gian tự rèn luyện sửa chữa những lỗi lầm gây nên, xét thấy chưa cần thiết cách ly bị cáo Bùi văn C ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị caó cư trú để quản lý, giáo dục trong một thời gian nhất định để bị cáo trở thành người công dân tốt cho xã hội.
. Về trách nhiệm dân sự: bị cáo Bùi Văn C đã tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, đại diện gia đình người bị hại đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu bồi thường thêm về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phần tranh luận bị cáo Bùi văn C không có ý kiến tranh luận gì, nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hòa Bình. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 (một) xe mô tô BKS 33N4-3306, nhãn hiệu FOCOL, loại xe nữ, màu sơn đỏ. Xe cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra bên trong; 01 (một) áo dài tay màu ghi, áo cũ, đã qua sử dụng; 01(một) áo dạng len mầu nâu đen, kẻ trắng, hai cánh tay áo cắt ngắn, áo cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) áo dạng len, mầu nâu có hoa văn, cổ áo tròn, áo cũ, đã qua sử dụng; 01(một) quần dài màu đen, có sọc xanh hai bên ống quần, quần cũ đx qua sử dụng; 01 (một) quần bò ngố, cũ, màu xanh, đã qua sử dụng; 01(một) áo phông ngắn tay màu tím có hoa văn, cổ áo có khóa, ão cũ, đã qua sử dụng; 01(một) quần bò màu ghi, quần cũ đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác, dạng phao, màu xanh đen, áo cũ, đã qua sử dụng; 01 (thắt lưng) màu nâu; 02 (hai) chiếc tất màu đen, có xọc trắng. Cơ quan điều tra Công an huyện Lạc Thủy xác đinh đây là các tài sản hợp pháp của người bị hại nên đã trả lại cho đại diện của gia đình bị hại là có căn cứ pháp luật.
- Đối với 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 số AU 818764 có giá trị đến ngày 26/4/2022 mang tên Bùi Văn Chính; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 000090 mang tên Bùi Văn Chính đối với xe mô tô BKS 28F1- 000.69; 01 (một) xe mô tô BKS 28F1- 000.69, nhãn hiệu Honda, màu sơn xám – đỏ - đen, xe cũ, đã qua sử dụng là giấy tờ thuộc sở hữu hợp pháp của Bùi Văn Chính. Nhận thấy các nội dung liên quan của vụ án đã được làm sáng tỏ, việc bồi thường dân sự giữa các bên đã được thực hiện đầy đủ, không có tranh chấp về chủ sở hữu vật chứng, việc trả lại tài sản không làm ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án, ngày 17/4/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy đã ra quyết định trả lại các giấy tờ trên cho Bùi Văn C, là có căn cứ pháp luật.
- Một giấy phép lái xe hạng A1 số AA 963250 mang tên Bùi Văn C, xét thấy là giấy tờ tùy thân nên trả lại cho bị cáo.
. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 điều 202, điểm b,p khoản 1, khoản 2 Điều 46, khoản 1, 2 điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 điều 136; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 6; Khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án.
1.Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn C phạm tội: “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”
Xử phạt bị cáo Bùi văn C 12 ( Mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là: 24 ( Hai mươi bốn) tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/6/2018).
Giao bị cáo Bùi Văn C cho UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Hoà Bình quản lý và giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc gián sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật Thi hành án Hình sự.
2. Về trách nhiệm dân sự: không đề cập
3. Về xử lý vật chứng:
Trả lại cho bị cáo Bùi Văn C một giấy phép lái xe hạng A1 số AA 963250 mang tên Bùi Văn C. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/4/2018 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình).
4.Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Văn C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo xin xét xử phúc thẩm trong hạn 15 (mươi năm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Lạc Thủy; - Chi cục THADS huyện Lạc Thủy; - Công an huyện Lạc Thủy - Bị cáo | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Bùi Thị Hiền |