- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "anh B xin ly hôn với chị N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Phƣớc B về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn là chị Lê Thị Cẩm N.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Số: 09/2018/HNGĐ-ST Ngày: 31-01-2018 V/v: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vọng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Minh Lý
2. Ông Nguyễn Văn Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Trƣơng Thị Kiều Diễm – Thƣ ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 31/01/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Tòa án nhân dân thành phố T mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 828/2017/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2017 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 105/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2018/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2018, giữa các đƣơng sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Phƣớc B, sinh năm 1975; cƣ trú tại: Phƣờng H, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt.
2. Bị đơn: Chị Lê Thị Cẩm N, sinh năm 1983; cƣ trú tại: Phƣờng H, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 12/10/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Phước B trình bày: Anh B và chị N quen biết, có thời gian tìm hiểu, đƣợc cha mẹ hai bên đồng ý nên đã tiến tới hôn nhân vào năm 2005. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng P, thị xã (Nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dƣơng theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 111, quyển số 01/2006, ngày 29/9/2006. Từ khi kết hôn đến nay vợ chồng chỉ sống hạnh phúc khoảng 10 năm đầu, từ tháng 5/2015 đến nay vợ chồng thƣờng xuyên xảy ra mâu thuẫn mà nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về kinh tế, thu nhập giữa vợ và chồng nên cả hai đã quyết định sống ly thân với nhau từ năm 2015 đến nay, không ai quan tâm đến nhau nữa. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên anh B yêu cầu đƣợc ly hôn với chị N.
Về con chung: Anh B và chị N có 02 con chung là cháu Nguyễn Lê D, sinh ngày 13/10/2006 và cháu Nguyễn Lê V, sinh ngày 05/8/2009. Sau khi ly hôn anh B yêu cầu đƣợc quyền trực tiếp nuôi các con, không yêu cầu chị N cấp dƣỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn chị Lê Thị Cẩm N, mặc dù đã đƣợc triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa nhƣng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của chị N đƣợc.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn anh Nguyễn Phƣớc B có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thƣ ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật, riêng bị đơn chị Lê Thị Cẩm N đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhƣng không tham gia phiên tòa nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền theo quy định đối với những ngƣời tiến hành tố tụng. Do nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những ngƣời tham gia tố tụng là đúng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục gì thêm.
+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật: Ngày 12/10/2017, anh Nguyễn Phƣớc B có đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và tranh chấp về nuôi con với chị Lê Thị Cẩm N nên đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại Điều 51, Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[1.2]. Về thẩm quyền: Tại thời điểm thụ lý, bị đơn chị Lê Thị Cẩm N đang cƣ trú tại thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.
[1.3]. Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Phƣớc B vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt; bị đơn chị Lê Thị Cẩm N vắng mặt không có lý do mặc dù đã đƣợc triệu tập đến tham dự phiên tòa lần thứ hai. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố T tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với anh B và chị N.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Ngày 29/9/2006, anh B và chị N đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân phƣờng P, thị xã (Nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dƣơng. Việc chung sống và đăng ký kết hôn giữa anh B và chị N là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc nên đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 9 và Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 nên hôn nhân giữa anh B và chị N là hợp pháp.
Quá trình chung sống, anh B xác định vợ chồng có nhiều mâu thuẫn mà nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về kinh tế, từ năm 2015 đến nay anh B và chị N sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Việc, anh B và chị N không còn quan tâm, thƣơng yêu, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau và không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn nên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị N nhiều lần để Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ gia đình nhƣng chị N vẫn cố tình vắng mặt, điều này chứng tỏ chị N không có thiện chí mong muốn gia đình đƣợc đoàn tụ.
Nhƣ vậy, có đủ cơ sở khẳng định, hôn nhân giữa anh B và chị N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu của anh B, cho anh B đƣợc ly hôn với chị N.
[2.2]. Về con chung: Anh B và chị N có 02 con chung là cháu Nguyễn Lê D, sinh ngày 13/10/2006 và cháu Nguyễn Lê V, sinh ngày 05/8/2009. Khi ly hôn anh B có nguyện vọng đƣợc quyền trực tiếp nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án, xét thấy cháu D và cháu V đều có nguyện vọng muốn đƣợc ở với anh B và anh B cũng có đủ khả năng nuôi dạy các con. Vì vậy, để cháu D và cháu V phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành ngƣời con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội, cần giao cháu D và cháu V cho anh B trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng là phù hợp nên yêu cầu của anh B về phần con chung đƣợc chấp nhận.
[2.3]. Về cấp dưỡng: Đƣơng sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[2.4]. Về tài sản chung và nợ chung: Các đƣơng sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[3]. Tại Tòa, quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một là có cơ sở.
[4]. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Anh B phải chịu 300.000 đồng; chị N không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Phƣớc B về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn là chị Lê Thị Cẩm N.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Phƣớc B đƣợc ly hôn với chị Lê Thị Cẩm N.
1.2. Về con chung: Anh Nguyễn Phƣớc B đƣợc quyền trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Lê D, sinh ngày 13 tháng 10 năm 2006 và cháu Nguyễn Lê V, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2009.
1.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngƣời không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai có quyền cấm đoán, ngăn cản. Vì lợi ích mọi mặt của con chƣa thành niên, các bên có quyền yêu cầu mức cấp dƣỡng, xin thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con nếu có căn cứ cho rằng bên kia không đáp ứng đƣợc quyền lợi của con.
1.4. Về tài sản chung và nợ chung: Các đƣơng sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Phƣớc B phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng); đƣợc khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Nguyễn Phƣớc B đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001792 ngày 23/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.
3. Các đƣơng sự đƣợc quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND TP. Thủ Dầu Một; - Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một; - UBND phƣờng Phú Thọ, TP. Thủ Dầu Một; - Các đƣơng sự; | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thế Vọng |