vanban.org

Bản án 09/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Đặng Văn H. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục con chung Đặng Huyền T, sinh ngày 04/4/2010 cho đến khi đủ tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Đặng Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Cường có quyền … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L.
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2018/HNGĐ-ST
Ngày 12/02/2018
" Ly hôn giữa chị L và anh H"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Giới.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Thắng

2. Ông Bùi Quốc Tuấn

Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Duyên – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh: Ông Hà Anh Bắc – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2018, tại Hội trường Toà án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 350/2017/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2017, về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2018, và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2018/QĐST – HNGĐ ngày 07/02/2018, giữa các đương sự :

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L - Sinh năm 1989. Địa chỉ: khu Nhuệ Hổ, phường Kim Sơn, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Nơi ở: Thôn Đ, xã H, thị xã C, tỉnh H - Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Đặng Văn H - Sinh năm 1984. Nơi ĐKHKTT: Khu N, phường K, thị xã Đ, tỉnh Q. – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/9/2017 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày: Chị kết hôn cùng anh Đặng Văn H, trên cơ sở tình yêu, tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 07/12/2008, tại Ủy ban nhân dân phường K, thị xã Đ, tỉnh Q. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống tại khu N, phường K, thị xã Đ, tỉnh Q. Quá trình chung sống, ban đầu hai người sống hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2015, thì phát sinh mâu thuẫn trong tình cảm vợ chồng. Nguyên nhân là do anh H thường xuyên chơi bời, say rượu chửi bới vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Hai người sống ly thân từ tháng 4 năm 2017 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống riêng của ai. Mặc dù gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, xin ly hôn với anh H. Anh chị có một con chung là Đặng Huyền Trang – sinh ngày 04/4/2010, tài sản chung không có, không vay nợ ai.

Đến nay, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L yêu cầu tòa án giải quyết:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xin ly hôn với anh Đặng Văn H.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị L xin được nuôi con chung là Đặng Hền Trang – sinh ngày 04/4/2010 cho đến khi đủ tuổi thành niên, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Đặng Văn H không có tài sản chung, không có nợ chung.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ, bà Lê Thị V là mẹ đẻ anh H đã ký nhận biên bản tống đạt nhưng anh H không có mặt. Ngày 16/01/2018, Tòa án tiến hành lấy lời khai trực tiếp tại nhà riêng, bà Lê Thị V trình bày: Từ tháng 4/2017, chị L đã bỏ về nhà ngoại, bà biết việc chị L xin ly hôn với anh H; ngày 11/10/2017 Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án số 350/TB – TLVA ngày 03/10/2017, bà là người ký nhận và đã giao cho anh H. Ngày 15/11/2017 Tòa án tống đạt Thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 13/11/2017, ông Đặng Văn N là bố của anh H ký nhận thay và đã giao cho anh H. Ngày 18/12/2017, Tòa án tống đạt Thông báo phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 15/12/2017, bà ký nhận và đã giao cho anh H nhưng anh H không đến Tòa án vì anh H bận công việc làm ăn. Thể hiện Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh H đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án là đúng quan hệ tranh chấp. Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71 – Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 – Bộ luật tố tụng dân sự, không có mặt theo giấy triệu tập, thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Về nội dung vụ án: Xét mâu thuẫn vợ chồng chị Nguyễn Thị L và anh Đặng Văn H là trầm trọng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị L được ly hôn với anh H. Về con chung, chị L và anh H có một con chung là Đặng Huyền Trang – sinh ngày 04/4/2010, hiện đang sống cùng chị L, nên giao cho chị L nuôi dưỡng, giáo dục cháu T đến đủ tuổi thành niên, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị L xin ly hôn anh Đặng Văn H, có hộ khẩu thường trú và chỗ ở tại khu N, phường K, thị xã Đ, tỉnh Q, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Đặng Văn H kết hôn trên cơ sở tình yêu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn là cuộc hôn nhân hợp pháp. Mục đích kết hôn là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, vợ chồng bình đẳng với nhau về mọi mặt trong gia đình.Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, giúp đỡ nhau. Nhưng do anh chị không hợp quan điểm trong sinh hoạt và cuộc sống nên phát sinh mâu thuẫn trong tình cảm vợ chồng. Do không hòa giải được mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, vợ chồng đã ly thân từ tháng 4/2017, hai người không quan tâm gì đến nhau. Nếu duy trì hôn nhân cũng không có hạnh phúc. Xét mâu thuẫn vợ chồng chị L và anh H là trầm trọng, tình yêu không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Đặng Văn H.

3. Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Đặng Văn H có 01 con chung là Đặng Huyền T – sinh ngày 04/4/2010, hiện đang sống với chị L, chấp nhận nguyện vọng của chị L, giao cho chị L nuôi dưỡng và giáo dục con chung Đặng Huyền T đến đủ tuổi trưởng thành. Anh Đặng Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

4. Về tài sản chung và nợ chung : Chị L và anh H không có tài sản chung, không có nợ chung nên không xét.

5. Về án phí : Chị L phải chịu án phí dân sự trong vụ án ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L.

Căn cứ: Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 - Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 228 - Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a - Khoản 5 - Điều 27 – Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Đặng Văn H.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục con chung Đặng Huyền T, sinh ngày 04/4/2010 cho đến khi đủ tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Đặng Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Cường có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007157 ngày 03/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Chị L đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ