- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị N - Nguyễn Văn P"
- Tòa quyết gì? Xử ly hôn giữa chị Phan Thị N với anh Nguyễn Văn P.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Huyện K – tỉnh Ninh Bình | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2018/HNGĐ-ST Ngày 08 tháng 5 năm 2018 “V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K – TỈNH NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Nghi và ông Vũ Đức Bính.
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ninh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện K.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa: Ông Ninh Trọng Khánh, Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K – tỉnh Ninh Bình. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2018/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định Đưa vụ án ra xét xử số 06/2018/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Phan Thị N, sinh năm 1987; ĐKHKTT: xóm 16, xã Q, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Chỗ ở hiện nay: Khu Đ, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Ninh Bình;
2. Bị đơn: anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1988; ĐKHKTT và trú tại: xóm 16, xã Q, huyện K, tỉnh Ninh Bình.
Hiện có mặt chị N, vắng mặt anh P tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn xin ly hôn ngày 19/01/2018 và bản tự khai ngày 24/01/2018, chị Phan Thị N là nguyên đơn trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn P kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q. Do tính tình không hợp nhau nên ngay sau khi về chung sống tại xóm 16, xã Q, vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Anh P không tu chí làm ăn, không quan tâm đến vợ con. Do không thể chịu đựng được nên chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại khu Đ, thị trấn N, huyện Y để sinh sống, ly thân với anh P từ năm 2015. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P để ổn định cuộc sống.
Về con cái: chị xác định vợ chồng có một người con chung là Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 04/6/2015 hiện đang ở cùng với chị, khi chị mới sinh cháu vào năm 2015 thì đã đưa luôn cháu đi cùng về nhà bố mẹ của chị để cùng sinh sống. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh P đóng góp tiền nuôi con cho chị.
Về tài sản: chị xác định vợ chồng không có tài sản gì chung nên không yêu cầu giải quyết.
Anh Nguyễn Văn P là bị đơn trong vụ án, mặc dù đã nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và các tài liệu, chứng cứ do chị N gửi theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh P không có mặt trong các lần triệu tập của Tòa án, không viết bản khai trình bày ý kiến của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K qua bài phát biểu tại phiên tòa thể hiện Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn trong vụ án đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật, đồng thời đề xuất việc giải quyết vụ án theo hướng chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, đề xuất xử ly hôn giữa chị Phan Thị N và anh Nguyễn Văn P, con chung chưa thành niên của vợ chồng giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng và việc cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị N và anh Nguyễn Văn P kết hôn với nhau trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, là quê của anh P. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và không giải quyết được vì vậy chị N đã bỏ về sinh sống tại nhà mẹ đẻ ở khu Đ, thị trấn N, huyện Y, vợ chồng ly thân từ năm 2015 đến nay, không quan tâm đến nhau. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn với anh P để ổn định cuộc sống, còn anh P, mặc dù đã được nhận thông báo thụ lý vụ án nhưng anh có thái độ không hợp tác, không có mặt tại Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập, không tham gia hòa giải. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị N và anh P đã quá trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N đối với anh P là phù hợp.
Về quan hệ con cái: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 04/6/2015 hiện đang do chị N nuôi dưỡng. Khi giải quyết ly hôn, Hội đồng xét xử nhận thấy, do cháu T chưa được 3 tuổi và chị N đang nuôi dưỡng cháu, anh P cho đến nay vẫn chưa có ý kiến gì về việc nuôi con, có thái độ bỏ mặc. Vì vậy cần giao cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không buộc anh P phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con như sự tự nguyện của chi N là phù hợp.
Về tài sản: do chị N không đề nghị giải quyết, anh P không có ý kiến gì, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình
Căn cứ Điều 144, Điều 147, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí.
Xử ly hôn giữa chị Phan Thị N với anh Nguyễn Văn P.
Giao chị N nuôi dưỡng con chung của vợ chồng là Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 04/6/2015. Anh P không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị N. Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc con chung.
Án phí ly hôn sơ thẩm chị N phải nộp 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002783 ngày 22/01/2018 của Chi cục Thi hành án huyện K.
Trường hợp bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, chị N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND huyện K; - Chi cục THADS huyện K; - Các đương sự; - UBND xã Q; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. Héi ®ång xÐt xö S¥ THÈM ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ (Đã ký) Nguyễn Hữu Mạnh |