vanban.org

Bản án 09/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bệnh tật, không có con

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

273 Bộ lu t Tố tụng Dân sự; Điều 9, Điều 14 Lu t Hôn nhân và gia đình; Lu t

phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bệnh tật, không có con — án hôn nhân và gia đình — "không công nhận quan hệ vợ chồng giữa Bùi Thị L và Trịnh Văn L"
  • Tòa quyết gì? 273 Bộ lu t Tố tụng Dân sự; Điều 9, Điều 14 Lu t Hôn nhân và gia đình; Lu t
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố

Số: 09/2018/HNGĐ-ST

Ngày: 24/04/2018

TÒ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT N M QUẬN D Độc L - Tự do - Hạnh phúc V/v không công nh n quan hệ vợ chồng NHÂN D NH NƯỚC CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT N M TÒ ÁN NHÂN DÂN QUẬN D THÀNH PHỐ H I PHÒNG - hành phần Hội đ ng xét xử sơ thẩm g m có: Thẩ phán - Chủ to phiên toà: Ông Vũ Quang Trung. Các Hội thẩ nhân dân: Ông Trần Quang Thương Bà Tạ Thị Hương - hư ký phiên toà: Ông Vũ Văn Thắng - Thư ký Toà án nhân dân qu n D, - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Phương Mai - Kiểm sát viên. 05 tháng 02 năm 2018 về việc không công nh n quan hệ vợ chồng theo Quyết các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Bùi Thị L, sinh năm 1970; nơi cư trú: Tổ 10, phường H, qu n D, Hải Phòng. Có mặt - Bị đơn: Ông Trịnh Văn L, sinh năm 1965; nơi cư trú: Tổ 10, phường H, qu n D, Hải Phòng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/01/2018, bản tự khai và trong quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn là bà Bùi Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trịnh Văn L xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện vào năm 1989, có tổ chức lễ cưới theo phong tục nhưng chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định pháp lu t. Sau khi cưới hai bên chung sống hòa thu n được khoảng 20 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông L rượu chè, cờ bạc không quan tâm tới gia đình,vợ con; khi xảy ra mâu thuẫn còn có hành vi ngược đãi, đánh đ p bà. Thời gian gần đây, mâu thuẫn ngày càng căng khẳng khi vợ chồng thường xuyên có nhiều bất đồng quan điểm sống và xảy ra cãi vã. Vợ chồng tuy sống chung một nhà nhưng ăn ở sinh hoạt riêng, không còn quan tâm tới nhau về tình cảm và kinh tế gia đình. Hai vợ chồng đã hòa giải với nhau nhiều lần nhưng không thành. Nay bà thấy tình cảm với ông L không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp lu t. Về con chung: Bà và ông L có 02 con chung là Trịnh Ngọc L, sinh năm 1990 và Trịnh Văn V, sinh năm 1992, các con đã trưởng thành nên bà không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thu n, bà không yêu cầu Toà án giải quyết. Tại Biên bản ghi lời khai 28/3/2018, bị đơn ông L trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Ông xác nh n về thời gian kết hôn cũng như quá trình chung sống sau đó phát sinh mâu thuẫn như bà L trình bày là đúng. Nay bà L làm xin ly hôn, do vợ chồng chưa đăng ký kết hôn nên ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp lu t. Về nuôi con chung: Ông xác nh n vợ chồng có hai con chung như bà L trình bày, các con đã trưởng thành nên không phải giải quyết. Về tài sản chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết. Trong quá trình tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành điều tra xác minh, thu th p chứng cứ về việc đăng ký kết hôn giữa bà L và ông L; thông báo về phiên họp tiếp c n chứng cứ và hòa giải, tuy nhiên ông L vắng mặt và có đơn đề nghị không hòa giải. Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử, ông L đã được tống đạt hợp lệ và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa, bà L đề nghị Tòa án giải quyết không công nh n quan hệ vợ chồng giữa bà và ông L. Về con chung và tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp lu t tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX, thư ký tòa án; việc chấp hành pháp lu t của người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị tòa án xử không công nh n bà Bùi Thị L và ông Trịnh Văn L là vợ chồng. NHẬN ĐỊNH CỦ TÒ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nh n định: Về tố tụng dân sự: [1] Bà Bùi Thị L có đơn đề nghị Tòa án nhân dân qu n D giải quyết ly hôn với ông Trịnh Văn L cư trú tại phường H, qu n D, Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ lu t Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân qu n D, thành phố Hải Phòng. [2] Ông Trịnh Văn L đã được Tòa án nhân dân qu n D tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ, nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ lu t Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Trịnh Văn L. Về quan hệ hôn nhân: [3] Bà Bùi Thị L và ông Trịnh Văn L xây dựng gia đình với nhau từ năm 1989, trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục t p quán nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Tòa án nhân dân qu n D đã thu th p chứng cứ về việc đăng ký kết hôn giữa bà L và ông L tại UBND phường H và tại Phòng tư pháp qu n D, đều thể hiện trong sổ lưu đăng ký kết hôn từ năm 1989 đến nay không có trường hợp đăng ký kết hôn của bà L và ông L. Như v y có cơ sở khẳng định: Bà Bùi Thị L và ông Trịnh Văn L chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp lu t Hôn nhân và gia đình. Theo hướng dẫn tại Khoản 4 Điều 3 Thông tư L tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số quy định của Lu t hôn nhân và gia đình: "... 4. Trường hợp na , nữ chung sống với nhau như vợ chồng à không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi ph điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý, giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ của cha, ẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định t i Điều 15 và Điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình" do đó tại phiên tòa hôm nay bà L yêu cầu Tòa án không công nh n bà và ông L là vợ chồng là có căn cứ, cần chấp nh n yêu cầu của bà L. [4]Về con chung: Bà L và ông L có 02 con chung là Trịnh Ngọc L, sinh năm 1990 và Trịnh Văn V, sinh năm 1992, các con đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét. [5]Về tài sản chung: Bà L và ông L không yêu cầu nên không phải xem xét giải quyết. [6]Về án phí: Bà L phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

[7]Về quyền kháng cáo: Bà L và ông L có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp lu t. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ lu t Tố tụng Dân sự; Điều 9, Điều 14 Lu t Hôn nhân và gia đình; Lu t phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Xử: 1. Tuyên bố không công nh n quan hệ vợ chồng giữa bà Bùi Thị L và ông Trịnh Văn L 2. Về án phí: Bà L phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự qu n D theo biên lai thu tiền số 14069 ngày 29/01/2018. 3. Bà Bùi Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Trịnh Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ