vanban.org

Bản án 09/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 30/01/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc H.

Buộc bà Lê Thị Ánh Tphải trả cho Nguyễn Ngọc H số tiền tổng cộng 492.960.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm chín mươi hai triệu, chín trăm sáu mươi ngàn đồng). Trong đó, tiền vốn là 400.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 30/01/2018 là 92.960.000 đồng. Thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ông Nguyễn Ngọc H kiện bà Lê Thị Ánh T"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2018/DS-ST
Ngày 30 tháng 01 năm 2018
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay
tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Thị Đẹp.

2. Bà Lê Thị Thu Y.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Trúc Linh - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 30 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 313/2017/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 239/2017/QĐST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1963 (Có mặt).

Địa chỉ: Số A, đường THĐ, Phường B, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Dương Thị Kim L – Văn phòng luật sư Kim L thuộc Đoàn luật sư tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Bà Lê Thị Ánh T, sinh năm 1959 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số B, đường Lê Thị Hồng G, Phường X, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Chổ ở hiện tại: Số C, hẻm 66, tổ 8, khu phố H, đường Đoàn Thị N, Phường 5, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Hải Y, sinh năm 1972 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ: Số B đường Lê Thị Hồng G, phường X, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc H trình bày: Ngày 07/11/2016 bà T vay mượn của ông 400.000.000 đồng thời hạn vay là 03 tháng, thỏa thuận 5%/tháng, lãi đóng hàng tháng, khi vay tiền bà Tcó để lại cho ông Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AT 495518, số vào sổ H04871 do UBND thành phố Mỹ Tho cấp ngày 03/7/2007 thuộc thửa 81, tờ bản đồ 39, diện tích 51,75m2, tọa lạc tại B Lê Thị Hồng G, Phường X, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang cho ông làm tin.

Đến tháng thứ 4, ông gặp bà Tvà bà đề nghị ông đưa thêm 50.000.000 đồng thì bà sẽ chuyển nhượng hẳn cho ông phần đất mà bà Tđã thế chấp Giấy chứng nhận nêu trên. Ông đồng ý nhưng sau đó bà cứ hẹn lần lựa viện lý do là nhà đang cho thuê. Chờ quá lâu nên bà có đến ngay nhà mà bà Tnói cho thuê thì ông gặp trực tiếp bà Trần Thị Hải Y và được cho hay là bà đã mua xong rồi và đã có giấy chủ quyền. Quá bức xúc ông có điện thoại cho bà Tnhưng bà không nghe nên ông khởi kiện yêu cầu bà Tphải trả lại vốn vay cho bà cùng lãi suất đến khi án có hiệu lực pháp luật số tiền vốn và lãi suất theo quy định của Nhà nước: vốn là 400.000.000 đồng và tiền lãi suất 1.66%/tháng, thời gian tính đến ngày khởi kiện là 10 tháng, số tiền là 66.400.000 đồng. Tổng cộng 466.400.000 đồng. Ông đồng ý hoàn trả lại Giấy chứng nhận QSDĐ cho bà Tkhi bà Ttrả lại đủ vốn và lãi.

Ngày 03/11/2017, ông Nguyễn Ngọc H có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ là bà Lê Thị Ánh T.

Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho đã ban hành Quyết định số 01/2017/QĐ-BPKCTT ngày 03/11/2017 áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm xuất cảnh đối với bà Lê Thị Ánh T, sinh năm 1959; Địa chỉ: Số B đường Lê Thị Hồng G, Phường X, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

* Bị đơn bà Lê Thị Ánh Ttừ khi thụ lý đến nay, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Hải Y có đơn xin giải quyết vắng mặt, và trình bày phần đất bà nhận chuyển nhượng của bà Tlà hoàn toàn hợp pháp. Đối với vụ kiện tranh chấp giữa ông H và bà Tthì bà không có ý kiến gì.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Căn cứ vào biên nhận ngày 07/11/2016, bà Tmượn của ông H 400.000.000 đồng, có thỏa thuận thời gian trả là 03 tháng, và thỏa thuận lãi suất 5%/tháng. Tuy nhiên, bà Tđã bội tín không thực hiện đúng như thỏa thuận. Nay ông H yêu cầu bà Ttrả lại tiền vốn và tiền lãi 1.66%/tháng là hoàn toàn có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng:

Căn cứ vào Biên nhận v/v vay mượn tiền ngày 07/11/2016 do bà Lê Thị Ánh Tviết và ký tên. Do bà Tkhông thực hiện đúng thỏa thuận nên ông H khởi kiện yêu cầu bà Ttrả số tiền vốn là 400.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 30/01/2018 là 92.960.000 đồng. Tổng cộng 492.960.000 đồng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản a điểm 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.

Đối với bị đơn bà Lê Thị Ánh Tđã được Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại Điều 174, 179 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bà vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T.

[1.3] Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Hải Y có đơn xin giải quyết vắng mặt hợp lệ, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt bà T.

Về nội dung: Qua lời trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn và căn cứ vào tờ Biên nhận về việc vay mượn tiền do bà Tviết và ký tên, theo đó bà Tvay của ông H số tiền 400.000.000 đồng, thời hạn vay 03 tháng, lãi suất thỏa thuận. Theo ông H trình bày thỏa thuận lãi suất 5%/tháng, bà Tchưa thực hiện trả khoản tiền lãi nào cho ông. Do đó, ông yêu cầu bà Ttrả cho ông tiền vốn là 400.000.000 và tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 14 tháng, lãi suất 1.66%/tháng, tổng tiền lãi là 92.960.000 đồng.

Bị đơn bà Lê Thị Ánh Tvắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng không có văn bản thể hiện ý kiến hay phản đối lại yêu cầu của nguyên đơn, xem như bà từ bỏ các quyền của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Tđã không thực hiện đúng các thỏa thuận do bà ghi trong Biên nhận. Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc H là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc bà Lê Thị Ánh Tcó nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Ngọc H số tiền vốn là 400.000.000 đồng.

Về tiền lãi, ông H yêu cầu bà Ttrả tiền lãi với lãi suất 1.66%/tháng, thời gian 14 tháng tính từ ngày 07/11/2016 đến ngày 30/01/2018, số tiền là 92.960.000 đồng. Xét yêu cầu này là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 357 Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Như vậy, bà Tcó nghĩa vụ phải trả cho ông H tổng số tiền 492.960.000 đồng. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

Về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AT 495518, số vào sổ H04871 do Ủy ban nhân dân thành phố Mỹ Tho cấp ngày 03/7/2007 thuộc thửa 81, tờ bản đồ 39, diện tích 51,75m2, tọa lạc tại B Lê Thị Hồng G, Phường X, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang mà bà Tđưa ông giữ để làm tin thì ông không yêu cầu, vì phần đất này bà Y đã nhận chuyển nhượng của bà Ttrước khi bà Tvay của ông. Nên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông đang giữ đã không có giá trị nên ông không yêu cầu gì.

Đối với Quyết định số 01/2017/QĐ-BPKCTT ngày 03/11/2017 áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm xuất cảnh đối với bà Lê Thị Ánh T, sinh năm 1959; Địa chỉ: Số B đường Lê Thị Hồng G, Phường X, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của ông H là có căn cứ nên cần tiếp tục duy trì.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Ánh Tphải chịu là 23.718.400 đồng.

Xét lập luận của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Điều 357, 463, 466, 468, 688 Bộ luật Dân sự 2015;

- Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc H.

1. Buộc bà Lê Thị Ánh Tphải trả cho Nguyễn Ngọc H số tiền tổng cộng 492.960.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm chín mươi hai triệu, chín trăm sáu mươi ngàn đồng). Trong đó, tiền vốn là 400.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 30/01/2018 là 92.960.000 đồng. Thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày ông H có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Tchậm thực hiện theo nội dung quyết định này thì phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Lê Thị Ánh Tphải chịu 23.718.400 đồng.

- Hoàn lại cho ông Nguyễn Ngọc H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 11.328.000 đồng theo biên lai số 0011583 ngày 16/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ