vanban.org

Bản án 09/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị L đối với bà Đặng Kim C và ông Lê Văn H về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

Bu c bà Đặng Kim C và ông Lê Văn H có nghĩa vụ trả cho chị Võ Thị L tiền nợ hụi là 155.500.000 đồng (M t trăm năm mươi lăm triệu năm trăm ngàn) đồng. Ghi nhận chị L không yêu cầu tính lãi suất. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Chị Võ Thị L tranh chấp hợp đồng vay với chị Võ Kim C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị L đối với bà Đặng Kim C và ông Lê Văn H về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN G
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2018/DS-ST
Ngày: 12-02-2018
V/v “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Quãng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Trường Tam

2. Bà Phan Thị Kiên

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Văn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hoàng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 08 và 12 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 254/2017/TLST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2017 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2018/QĐST-DS ngày 22 tháng 01 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị L, sinh năm 1977.

Địa chỉ: ấp 5, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: Bà Đặng Kim C, sinh năm: 1963.

Ông Lê Văn H, sinh năm: 1966.

Cùng địa chỉ: ấp 5, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

Chị L, bà C có mặt; ông H có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Võ Thị L trình bày: Chị yêu cầu bà C và ông H trả lại số tiền của 02 dây hụi là 155.500.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Cụ thể 02 dây hụi do chị làm chủ như sau:

- Dây hụi 3.000.000 đồng/tháng, mở ngày 01-6-2015 âm lịch, mãn ngày 01-7-2017 âm lịch, gồm có 27 người tham gia, bà C tham gia 01 phần. bà đóng hụi đến ngày 01-3-2016 âm lịch thì hốt hụi với số tiền 64.740.000 đồng, trừ cò 1.300.000 đồng, chị đăng hụi cho bà C được số tiền 63.440.000 đồng. Sau khi hốt hụi bà C đóng hụi chết cho chị đến ngày 01-3-2017 âm lịch thì ngưng, hiện tại bà C còn nợ lại 05 lần hụi chết với số tiền 15.000.000 đồng (dây hụi này có nhuần hai tháng 06), dây hụi này bà C còn nợ lại chị 500.000 đồng tiền đóng hụi chết vào tháng 03-2017 âm lịch. Tổng số tiền bà C còn nợ lại chị dây hụi này là 15.500.000 đồng.

- Dây hụi 10.000.000 đồng/tháng, mở ngày 12-8-2016 âm lịch, mãn ngày 12-3-2018 âm lịch, gồm 21 người tham gia, bà C tham gia 01 phần, vào ngày 12-10-2016 âm lịch bà C hốt hụi với số tiền 159.500.000 đồng, trừ cò 4.600.000 đồng, chị đăng hụi cho bà C với số tiền 154.900.000 đồng, bà C đóng hụi chết đến ngày 12-3-2017 âm lịch thì ngưng cho đến nay, dây hụi này chưa mãn nhưng bà C đã vi phạm về nghĩa vụ tham gia góp hụi cho nên chị yêu cầu bà C phải thanh toán hết số tiền của dây hụi đến mãn là 14 kỳ với số tiền 140.000.000 đồng.

Bị đơn bà Đăng Kim C trình bày: Dây hụi 3.000.000 đồng/tháng, mở ngày 01-6-2015 âm lịch, mãn ngày 01-7-2017 âm lịch, gồm có 27 người tham gia, dây hụi này chị L trình bày là đúng, bà còn nợ chị L là 15.500.000 đồng.

Đối với dây hụi mở ngày 12-8-2016 âm lịch, mãn ngày 12-3-2018 âm lịch bà thừa nhận có tham gia. Dây hụi này bà có vi phạm nghĩa vụ đóng hụi với chị L, nhưng hụi chưa mãn cho nên bà không đồng ý trả hết số tiền theo yêu cầu của chị L, bà đồng ý trả cho chị L những tháng không đóng hụi từ tháng 03-2017 đến tháng 9-2017 âm lịch với số tiền 80.000.000 đồng (dây hụi này có nhuần hai tháng 6), sau tháng 9-2017 âm lịch bà không đóng hụi chết cho chị L thì chị L sẽ tiếp tục khởi kiện.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn H trình bày: Ông là chồng của bà Đặng Kim C, ông và bà C hiện tại sống ly thân khoản 04 năm, chưa ly hôn, đối với số nợ của chị L ông không biết, ông xác định đây là nợ riêng của bà C không liên quan đến ông cho nên không đồng ý cùng bà C trả số nợ trên cho chị L.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm H i đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, H i đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về n i dung vụ án, đề nghị H i đồng xét xử chấp nhận m t phần yêu cầu khởi kiện của chị L, bu c bà C, ông H trả cho chị L tiền của dây hụi 3.000.000 đồng/tháng, khui ngày 01-6-2015 âm lịch là 15.500.000 đồng; dây hụi 10.000.000 đồng/tháng, khui ngày 12-8-2016 âm lịch, dây hụi này bà C đóng hụi chết đến ngày 12-2-2017 âm lịch, như vậy bà C, ông H chỉ có nghĩa vụ đóng tiếp hụi chết cho chị L từ tháng 3-2017 âm lịch đến thời điểm vi phạm nghĩa vụ góp hụi là 11 tháng với số tiền 110.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, H i đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Ông Lê Văn H có đơn xin giải quyết vắng mặt. Do đó, H i đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với Điều 227 B luật tố tụng dân sự.

Về n i dung vụ án: Chị L là chủ thảo hụi yêu cầu bà C và ông H là hụi viên phải trả lại số tiền hụi còn nợ là 155.500.000 đồng, trong đó dây hụi 3.000.000 đồng/tháng, mở ngày 01-6-2015, mãn ngày 01-7-2017 âm lịch, còn nợ lại 05 kỳ hụi chết với số tiền 15.000.000 đồng, trong tháng 03-2017 âm lịch khi đóng hụi bà C còn nợ lại chị L 500.000 đồng, như vậy bà C nợ dây hụi mở ngày 01-6-2015 số tiền là 15.500.000 đồng; dây hụi 10.000.000 đồng/tháng, mở ngày 12-8-2016, mãn ngày 12-3-2018 âm lịch, còn nợ lại 14 kỳ hụi chết chưa đóng với số tiền 140.000.000 đồng, do bà C và ông H vi phạm nghĩa vụ góp hụi đến kỳ mở hụi là 08 lần tính từ tháng 02-2017 đến tháng 09-2017 âm lịch (trong đó nhuần hai tháng 6 âm lịch).

Ngược lại bà C chỉ đồng ý trả cho chị L số tiền hụi 95.500.000 đồng, trong đó dây hụi 3.000.000 đồng/tháng còn nợ số tiền 15.500.000 đồng, dây hụi 10.000.000 đồng/tháng chưa mãn, bà không đóng hụi chết từ tháng 03-2017 đến tháng 9-2017 âm lịch với số tiền 80.000.000 đồng (nhuần hai tháng 6). Bà C cho rằng dây hụi này chưa mãn, nên bà không đồng ý thanh toán các lần hụi chết đến khi mãn hụi.

Xét thấy: Dây hụi 10.000.000 đồng/tháng, bà C không đồng ý thanh toán hụi chết đến khi mãn là không có cơ sở chấp nhận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 30 của Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27-11-2006 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu, phường. Trách nhiệm của thành viên không góp hụi khi đến kỳ mở hụi thì phải thanh toán đầy đủ phần hụi còn thiếu tương ứng với thời gian chưa thanh toán cho đến thời điểm kết thúc hụi, như vậy căn cứ vào Nghị định thì thấy bà C đã không thanh toán đầy đủ phần hụi còn thiếu. Nên H i đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị L là phù hợp theo quy định tại Điều 479 của B luật dân sự năm 2005.

Về xác định nghĩa vụ trả nợ: Tại thời điểm bà C tham gia góp hụi với chị L thì ông H và bà C chưa ly hôn, hơn nữa bà C cho rằng số tiền hốt hụi của chị L là dùng vào mục đích mua bán heo, mua lúa nhằm tạo thu nhập để trang trãi cu c sống cho gia đình. Từ những phân tích trên xét thấy mặc dù m t mình bà C trực tiếp tham gia góp hụi nhưng nhằm để kinh doanh mua bán, tạo thu nhập đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình nên ông H phải chịu trách nhiệm liên đới cùng với bà C trả số nợ trên cho chị L. Do đó yêu cầu của chị L là có căn cứ nên H i đồng xét xử chấp nhận, bu c bà C và ông H có nghĩa vụ trả cho chị L 155.500.000 đồng là phù hợp Điều 479 B luật dân sự 2005 và Điều 27, Điều 30 và Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát không chấp nhận m t phần yêu cầu của chị L đối với dây hụi 10.000.000 đồng/tháng, tính đến ngày xét xử sơ thẩm dây hụi chưa mãn là không đúng theo Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27-11-2006 của Chính phủ. Nên không chấp nhận.

Án phí: Bà C và ông H phải chịu án phí sơ thẩm dân sự theo Điều 147 của B luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 147, Điều 227 và Điều 273 của B luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 479 B luật dân sự năm 2005;

Căn cứ vào Điều 27, Điều 30 và Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị L đối với bà Đặng Kim C và ông Lê Văn H về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

Bu c bà Đặng Kim C và ông Lê Văn H có nghĩa vụ trả cho chị Võ Thị L tiền nợ hụi là 155.500.000 đồng (M t trăm năm mươi lăm triệu năm trăm ngàn) đồng.

Ghi nhận chị L không yêu cầu tính lãi suất.

2. Án phí: Bà C và ông H phải chịu 7.775.000 đồng án phí sơ thẩm dân sự. Hoàn trả lại cho chị L 3.887.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0012622 ngày 13-10-2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G.

Kể từ ngày chị L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà C và ông H không thi hành số tiền nêu trên, thì hàng tháng bà C và ông H còn phải chịu tiền theo mức lãi suất được quy định tại Điều 468 B luật Dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ