vanban.org

Bản án 09/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP VNTV đối với anh Lê Quang T.

Buộc anh Lê Quang T phải trả cho Ngân hàng TMCP VNTV tiền gốc 9.968.723đồng và tiền lãi 3.839.601đồng. Tổng cộng là 13.808.324đồng (Mười ba triệu tám trăm linh tám nghìn ba trăm hai mươi bốn đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng TMCP VNTV có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Lê Qua… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP VNTV đối với anh Lê Quang T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 468 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TD
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2018/DS - ST
Ngày 31 - 5 - 2018
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TD, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tiến Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Nghị.

2. Ông Nguyễn Đức Nghiệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Xuân Chín - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Xuân Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TD xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 87/2017/TLST - DS ngày 08 tháng 12 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2018/QĐXXST – DS ngày 02 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP VNTV;

Địa chỉ: Số 89 LH, phường LH, quận DD, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí Dũng – Chủ tịch Hội đồng quản trị;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hiền Thảo (Theo Văn bản ủy quyền số 29/2017/UQ – CT ngày 22/6/2017);

Người được ủy quyền lại: Bà Lê Thị Thảo (Theo Văn bản ủy quyền lại số 24/2017/UQ - GĐK - TDTD ngày 20/9/2017);

Địa chỉ: Đường Lương Văn Can, phường Liên Bảo, thành phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc, (Có mặt).

- Bị đơn: Anh Lê Quang T, sinh năm 1987;

Địa chỉ: Thôn LL, xã HT, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc, (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 01 năm 2018 và những lời khai tiếp theo người đại diện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP VNTV, bà Lê Thị Thảo trình bày:

Ngày 19 tháng 5 năm 2014, anh Lê Quang T có ký Hợp đồng tín dụng số 20140522 - 129006 - 0006 với Ngân hàng TMCP VNTV để vay số tiền là 26.250.000đồng (Hai mươi sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), mục đích vay là tiêu dùng cá nhân, hình thức vay tín chấp và không có tài sản bảo đảm. Theo thỏa thuận giữa Ngân hàng và anh Lê Quang T thì lãi suất của khoản vay trên là 3,75%/tháng.

Phương thức trả nợ là trả chậm trong vòng 36 tháng. Tổng số tiền anh Lê Quang T phải thanh toán cho Ngân hàng trong vòng 36 tháng bao gồm cả gốc và lãi khi thực hiện hợp đồng là 49.318.000đồng, cụ thể,trong 35 tháng đầu mỗi tháng anh Lê Quang T phải trả cho Ngân hàng số tiền 1.341.000đồng, tháng cuối cùng trả 2.383.000 đồng. Kỳ thanh toán vào ngày 01 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 01 tháng 7 năm 2014.

Sau khi ký Hợp đồng tín dụng, anh Lê Quang T đã nhận đủ số tiền vay. Khi đến kỳ trả nợ, anh T đã trả cho Ngân hàng được 27 lần tương ứng với 27 kỳ với tổng số tiền là 37.478.000đồng. Trong đó số tiền gốc mà anh T đã trả được là 16.281.277đồng, số tiền lãi trong hạn đã trả được là 21.196.723đồng, tính từ ngày 27 tháng 6 năm 2014 đến ngày 20 tháng 5 năm 2016. Kể từ ngày 20 tháng 5 năm 2016, anh Lê Quang T không trả thêm cho Ngân hàng bất kỳ một khoản gốc và lãi nào khác. Tính đến nay anh Lê Quang T còn nợ Ngân hàng TMCP VNTV số tiền gốc là 9.968.723đồng, số tiền lãi trong hạn là 1.871.277 đồng. Nay Ngân hàng TMCP VNTV yêu cầu Tòa án buộc anh Lê Quang T thanh toán trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 9.968.723đồng, số tiền lãi trong hạn là 1.871.277đồng và số tiền lãi phát sinh của số tiền gốc còn lại tính từ ngày hết hạn hợp đồng ngày 01 tháng 6 năm 2017 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 31 tháng 5 năm 2018 là 359 ngày, cụ thể 9.968.723đồng x 0,055%/ngày (20%/năm) x 359 ngày = 1.968.324đồng. Tổng nợ lãi, tính đến ngày 31 tháng 5 năm 2018 là 1.871.277 đồng + 1.968.324đồng = 3.839.601đồng. Trong đó nợ gốc là 9.968.723đồng,nợ lãi là 3.839.601đồng. Như vậy, tổng số tiền anh Lê Quang T phải trả cho Ngân hàng tính đến ngày 31 tháng 5 năm 2018 là 13.808.324đồng. Đối với phần lãi suất chậm thanh toán kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng yêu cầu anh Lê Quang T phải chịu lãi suất theo quy định về lãi suất theo Bộ luật dân sự năm 2015 trên tổng số dư nợ gốc còn lại.

- Bị đơn anh Lê Quang T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, các giấy triệu tập của Tòa án, được Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Tuy nhiên, anh Lê Quang T đều vắng mặt không có lý do, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh T cũng như việc tiến hành hòa giải vụ án theo quy định của pháp luật được. Anh T không có yêu cầu phản tố, cũng như không có ý kiến gì liên quan đến chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Tòa án tiếp tục xem xét giải quyết vụ án theo thủ tục chung đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP VNTV.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. Những người tham gia tố tụng như nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định pháp luật, bị đơn không chấp hành các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Về giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP VNTV buộc anh Lê Quang T phải trả cho Ngân hàng TMCP VNTV toàn bộ số tiền 13.808.324đồng (Trong đó, số tiền gốc là 9.968.723đồng và tiền lãi là 3.839.601đồng).

Về án phí: Anh Lê Quang T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Đây là vụ án “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” giữa Ngân hàng TMCP VNTV với anh Lê Quang T theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[2] Về tố tụng: Bị đơn anh Lê Quang T đã được Tòa án đã triệu tập, thông báo hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc thuộc trường hợp bị đơn cố tình vắng mặt theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nên Tòa án đã thực hiện các thủ tục niêm yết công khai về việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng và tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải theo quy định tại khoản 2 Điều 209 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Bị đơn anh Lê Quang T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do, vì vậy căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP VNTV thấy rằng Ngân hàng TMCP VNTV là tổ chức tín dụng được thực hiện các hoạt động huy động vốn và hoạt động tín dụng (cho vay ngắn hạn, trung hạn, cho vay tiêu dùng…). Hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP VNTV chịu sự điều chỉnh của Luật Tổ chức tín dụng. Khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thoả thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Do vậy, việc Ngân hàng TMCP VNTV và anh Lê Quang T thoả thuận mức lãi suất đối với khoản vay tiêu dùng của anh T là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật. Giữa Ngân hàng TMCP VNTV với anh Lê Quang T đã ký kết hợp đồng tín dụng số 20140522 - 129006 - 0006 ngày 19 tháng 5 năm 2014, theo đó Ngân hàng TMCP VNTV cho anh T vay 26.250.000đồng với lãi suất, mục đích vay, hình thức, phương thức trả nợ như đại diện của nguyên đơn đã trình bày cụ thể ở trên. Hợp đồng trên là hợp pháp để các bên thực hiện. Sau khi ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP VNTV, anh T đã trả được cho Ngân hàng được 27 lần, với tổng số tiền là 37.478.000đồng. Trong đó số tiền gốc mà anh T đã trả được là 16.281.277đồng, số tiền lãi trong hạn đã trả được là 21.196.723đồng. Kể từ ngày 20 tháng 5 năm 2016, anh Lê Quang T không thực hiện nghĩa vụ của mình để trả số tiền nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng theo hợp đồng đã ký kết, lỗi hoàn toàn thuộc về anh T. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP VNTV buộc anh T phải trả cho Ngân hàng TMCP VNTV tiền gốc 9.968.723đồng và tiền lãi trong hạn 1.871.277đồng. Tổng cộng là 11.840.000đồng. Đối với khoản tiền nợ lãi phát sinh từ khi hết hạn hợp đồng ngày 01 tháng 6 năm 2017 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 31 tháng 5 năm 2018 mà Ngân hàng TMCP VNTV yêu cầu anh T phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 1.968.324đồng là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.

Như vậy, cần buộc anh Lê Quang T phải trả cho Ngân hàng TMCP VNTV tiền gốc 9.968.723đồng và tiền lãi là 3.839.601đồng. Tổng cộng là 13.808.324đồng.

Đối với phần lãi suất chậm thanh toán kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật Ngân hàng yêu cầu anh Lê Quang T phải chịu lãi suất theo quy định về lãi suất của Bộ luật dân sự năm 2015 trên tổng số dư nợ gốc còn lại. Yêu cầu của Ngân hàng TMCP VNTV là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, được xem xét khi quyết định.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lê Quang T phải nộp án phí 5% giá trị tài sản tranh chấp là 13.808.324đồng x 5% = 690.416đồng (Làm tròn 690.000đồng). Ngân hàng TMCP VNTV không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vàokhoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Toà án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP VNTV đối với anh Lê Quang T.

1. Buộc anh Lê Quang T phải trả cho Ngân hàng TMCP VNTV tiền gốc 9.968.723đồng và tiền lãi 3.839.601đồng. Tổng cộng là 13.808.324đồng (Mười ba triệu tám trăm linh tám nghìn ba trăm hai mươi bốn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng TMCP VNTV có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Lê Quang T không thanh toán khoản tiền nêu trên thì hàng tháng phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 trên tổng dư nợ gốc còn lại.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lê Quang T phải nộp 690.000đồng (Sáu trăm chín mươi nghìn đồng).

Hoàn trả Ngân hàng TMCP VNTV 296.000đồng (Hai trăm chín mươi sáu nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số AA/2016/0000835 ngày 08 tháng 12 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ