vanban.org

Bản án 09/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C Việt Nam - Phòng giao dịch ngân hàng Ch huyện Krông Nô .

Buộc ông Tạ Văn T phải thanh toán cho Ngân hàng C Việt Nam - Phòng giao dịch ngân hàng Ch huyện K tổng số tiền là 40.277.800 đồng, trong đó số tiền nợ gốc là: 30.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn còn lại chưa thanh toán tính đến ngày 11/5/2015 là 1.033.500 đồng, lãi quá hạn tính đến ngày 10/5/2018 là… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Dân sự"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C Việt Nam - Phòng giao dịch ngân hàng Ch huyện Krông Nô .
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NÔ
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2018/DS-ST
Ngày 10/5/2018
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Nhi

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đình Bông và ông Nguyễn Hoàng Khôi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Hường, cán bộ TAND huyện Krông Nô.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên tòa: Ông Tống Mạnh Cường, chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2018, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Krông Nô tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 108/2017/TLST-DS, ngày 14/12/2017, về việc “Kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2018/QĐST-DS, ngày 02/4/2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2018/QĐST-DS, ngày 18/4/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng C Việt Nam

Địa chỉ: phố L, phường H, quận H, Tp. Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: ông Dương Quyết T, C/v: Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: ông Phạm H , C/v: Giám đốc Ngân hàng Ch huyện K

- có mặt.

Bị đơn: Ông Tạ Văn T - vắng mặt.

Địa chỉ: thôn Đ, Thị trấn Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/12/2017, quá trình giải quyết vụ án, Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn – ông Phạm H trình bày:

Ngày 20/04/2012, Ngân hàng C Việt Nam - Phòng giao dịch ngân hàng Ch Krông Nô cho ông Tạ Văn T vay vốn theo chương trình cho vay hộ nghèo để thực hiện phương án trồng cà phê mới thông qua tổ chức hội Phụ nữ thôn Đ theo hợp đồng tín dụng số 6000006400030933 (số cũ là 6401111073) với số tiền là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng), thời hạn vay 36 tháng, lãi suất là 0,65%/tháng, lãi suất quá hạn là 130% tương đương 0.845% lãi suất khi cho vay, thời hạn trả nợ cuối cùng là ngày 22/04/2015.

Khi vay vốn ông T cam kết trả nợ, trả lãi đúng theo quy định của ngân hàng theo kỳ hạn trả nợ 12 tháng/lần với số tiền là 10.000.000 đồng/năm nhưng đến hạn phân kỳ trả nợ hợp đồng tín dụng người vay cũng không chấp hành nghĩa vụ trả nợ, buộc Phòng giao dịch ngân hàng Ch huyện K phải chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 11/5/2015.

Trong quá trình vay hộ ông Tạ Văn T chỉ thanh toán được số tiền lãi trong hạn là 6.207.500 đồng (Thời điểm thanh toán tiền lãi cuối cùng là ngày 11/12/2014) và không thanh toán được khoản tiền gốc nào.

Ngân hàng biết về việc ông Tạ Văn T vắng mặt tại địa phương từ cuối năm 2014, bản thân ông Tạ Văn T không thông báo địa chỉ nơi cư trú mới cho Ngân hàng, Ngân hàng nhiều lần gửi thông báo nợ lãi và thông báo nợ quá hạn cho ông Tạ Văn T, tuy nhiên hiện nay ông Tạ Văn T vẫn vắng mặt, Ngân hàng nhiều lần liên hệ nhưng cũng không xác định được ông Tạ Văn T đang sinh sống, làm việc tại đâu.

Tính đến ngày 10/5/2018 ông T đã nợ ngân hàng số tiền 40.277.800 đồng, trong đó :

Tiền nợ gốc là: 30.000.000 đồng.

Tiền lãi trong hạn:

Từ ngày 22/4/2012 đến ngày 11/5/2015:

30.000.000 đồng x 0,65%/tháng x 1114 ngày = 7.241.000 đồng.

Số tiền lãi trong hạn: 7.241.000 đồng - 6.207.500 đồng = 1.033.500 đồng.

-Tiền lãi quá hạn:

Từ ngày 12/05/2015 đến ngày 10/5/2018:

30.000.000 đồng x 0,845%/tháng x 1094 ngày = 9.244.300 đồng.

Số tiền lãi quá hạn 9.244.300 đồng.

Tổng cộng số tiền lãi là: 1.033.500 đồng + 9.244.300đồng = 10.277.800 đồng.

Ông Tạ Văn T còn phải chịu thêm số tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng số 6000006400030933 (Số cũ là 6401111073), ngày 20/04/2012, kể từ ngày 11/5/2018 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Tại phiên tòa, Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Tạ Văn T phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 40.277.800 đồng, trong đó tiền gốc là 30.000.000 đồng, lãi suất trong hạn tính đến ngày 11/5/2015 là 1.033.500 đồng, tiền lãi quá hạn đến ngày 10/5/2018 là 9.244.300 đồng .

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho ông Tạ Văn T, tuy nhiên ông T vắng mặt tại địa phương, tại phiên tòa ông T vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Krông Nô vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa; tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các trình tự thủ tục quy định; Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật; Bị đơn vi phạm quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70; 72 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

Về án phí: Buộc ông Tạ Văn T nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả thẩm tra công khai các tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C Việt Nam là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 3 Điều 26, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Tạ Văn T. Tại Biên bản xác minh của Công an thị trấn Đ thể hiện, ông Tạ Văn T đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, Thị trấn Đ, huyện K, theo hồ sơ hộ khẩu số 90, số hộ khẩu 170051503. Tuy nhiên ông T thường xuyên vắng mặt tại địa phương, ông không thay đổi nơi cư trú, không thông báo tạm vắng tại địa phương, không thông báo địa chỉ nơi cư trú mới cho Ngân hàng, vì vậy chính quyền địa phương cũng như Ngân hàng không xác định được nơi sinh sống và làm việc hiện nay của ông T.

Khoản 2 Điều 5 và điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP, ngày 05/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

Khoản 2 Điều 5: “Người khởi kiện đã cung cấp địa chỉ “nơi cư trú, làm việc, hoặc nơi có trụ sở”của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho Tòa án theo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn tại khoản 1 Điều này tại thời điểm nộp đơn khởi kiện mà được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh rằng đó là địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì được coi là đã ghi đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.”

Điều 6:

“2. Trường hợp sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tống đạt được thông báo về việc thụ lý vụ án do bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không còn cư trú, làm việc hoặc không có trụ sở tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp thì Tòa án giải quyết như sau:

a) Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;”

Theo tài liệu chứng cứ mà Nguyên đơn cung cấp thể hiện, người trực tiếp vay tiền và ký kết hợp đồng tín dụng là ông Tạ Văn T. Ngân hàng cho vay ông T vay tiền theo chương trình cho vay hộ nghèo để thực hiện phương án trồng cà phê mới thông qua tổ chức hội Phụ nữ thôn Đ.

Từ các phân tích và dẫn chiếu quy định của pháp luật trên thì xác định được ông T là người có nghĩa vụ đối với Ngân hàng, nhưng ông không thực hiện nghĩa vụ theo đúng nội dung thỏa thuận của hai bên, ông thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không thông báo tạm vắng cho chính quyền địa phương, cũng không thông báo địa chỉ mới cho Ngân hàng, vì vậy ông T cố tình giấu địa chỉ. Tòa án nhân dân huyện Krông Nô thụ lý, giải quyết theo đúng thẩm quyền.

Tại phiên tòa ông Tạ Văn T vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung Hợp đồng tín dụng:

Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 6000006400030933 (số cũ là 6401111073), ngày 20/04/2012 (Hợp đồng thể hiện tại Sổ vay vốn và Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay), đã xác định được Ngân hàng C Việt Nam - Phòng giao dịch ngân hàng Ch huyện K đã ký kết hợp đồng tín dụng với ông Tạ Văn T. Hai bên thỏa thuận số tiền vay là 30.000.000 đồng theo chương trình cho vay hộ nghèo để thực hiện phương án trồng cà phê mới, thời hạn vay 36 tháng, kỳ hạn trả nợ 12 tháng/lần với số tiền là 10.000.000 đồng/năm, lãi suất là 0,65%/tháng, lãi suất quá hạn là 130% lãi suất khi cho vay, thời hạn trả nợ cuối cùng ngày 22/4/2015 và được gia hạn đến ngày 12/5/2015.

Trong quá trình vay ông Tạ Văn T chỉ thanh toán được số tiền lãi trong hạn là 6.207.500 đồng (thời điểm trả tiền lãi cuối cùng là ngày 11/12/2014) và không thanh toán được khoản tiền gốc nào.

Tính đến ngày xét xử, ngày 10/5/2018, ông Tạ Văn T còn nợ của Ngân hàng tổng số tiền 40.277.800 đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 30.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn đến ngày 11/5/2015 là 1.033.500 đồng, tiền lãi quá hạn đến ngày 10/5/2018 là 9.244.300 đồng .

Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng tín dụng thể hiện dưới hình thức văn bản, thể hiện sự tự nguyện, tự thỏa thuận giữa bên cho vay là Ngân hàng C Việt Nam - Phòng giao dịch ngân hàng Ch huyện K và bên vay là ông Tạ Văn T. Hợp đồng tín dụng đã thể hiện rõ về mức cho vay, phương thức cho vay, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay, trả nợ gốc và lãi vốn vay, quyền và nghĩa vụ của bên cho vay; bên vay… đúng theo quy đinh tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 10; Điều 11; Điều 12; Điều 13; Điều 16; Điều 17; Điều 24; Điều 25 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước). Tuy nhiên, khi ngân hàng cho ông Tạ Văn T vay thì không thể hiện các giấy tờ ràng buộc nào mà chỉ thông qua tổ chức hội phụ nữ thôn Đ.

Về yêu cầu thanh toán nợ gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn:

Theo Hợp đồng tín dụng số 6000006400030933 (số cũ là 6401111073), ngày 20/04/2012 (Hợp đồng thể hiện tại Sổ vay vốn và Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay), thì ông T vay số tiền là 30.000.000 đồng với thời hạn vay là 36 tháng, thời điểm trả nợ cuối cùng là ngày 22/4/2015 và được gia hạn đến ngày 11/5/2015.

Tại điểm 2, điểm 5 mục II, phần phê duyệt của Ngân hàng thể hiện trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay thể hiện lãi suất cho vay là 0,65%/tháng, tiền lãi được thanh toán vào ngày 22 hàng tháng. Trong quá trình vay ông T chỉ thanh toán được số tiền lãi trong hạn là 6.207.500 đồng vào thời điểm cuối cùng là ngày 11/12/2014.

Theo đó, số tiền lãi trong hạn :

Từ ngày 22/4/2012 đến ngày 11/5/2015 :

30.000.000 đồng x 0,65%/tháng x 1114 ngày = 7.241.000 đồng.

Tổng tiền lãi trong hạn là 7.241.000 đồng - 6.207.500 đồng = 1.033.500 đồng.

Tại điểm 2 mục II, phần phê duyệt của Ngân hàng thể hiện trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay thể hiện Lãi suất nợ quá hạn là 130% lãi suất cho vay ngay trước thời điểm nợ quá hạn.

Khoản 4 Điều 1 Quyết định 127/2005/QĐ-NHNN, ngày 03/2/2005 sửa đổi bổ sung khoản 2 Điều 13 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN, ngày 31/12/2001 quy định: "2. Đối với khoản nợ vay không trả nợ đúng hạn, được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng trả nợ đúng hạn và không chấp thuận cho cơ cấu lại thời hạn trả nợ, thì số dư nợ gốc của hợp đồng tín dụng đó là nợ quá hạn và tổ chức tín dụng thực hiện các biện pháp để thu hồi nợ; việc phạt chậm trả đối với nợ quá hạn và nợ lãi vốn vay do hai bên thoả thuận trên cơ sở quy định của pháp luật. Tổ chức tín dụng phân loại toàn bộ số dư nợ gốc của khách hàng vay có nợ quá hạn vào tài khoản cho vay thích hợp theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.".

Tại điểm 4 mục II, phần phê duyệt của Ngân hàng thể hiện trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay, thời hạn trả nợ cuối cùng là ngày 22/4/2015. Do ông T không thanh toán được nợ gốc, vì vậy ngày 12/5/2015, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số tiền nợ gốc chuyển thành nợ quá hạn đúng theo thỏa thuận của các bên thể hiện trong hợp đồng và phù hợp với quy định của pháp luật.

Theo đó, số tiền lãi nợ quá hạn: Từ ngày 12/05/2015 đến ngày 10/5/2018:

30.000.000 đồng x 0,845%/tháng x 1094 ngày = 9.244.300 đồng.

Vì vậy, Ngân hàng C Việt Nam - Phòng giao dịch ngân hàng Ch Krông Nô yêu cầu thanh toán đối với số tiền nợ gốc 30.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn tính đến ngày 11/5/2015 là 1.033.500 đồng, tiền nợ quá hạn tính đến ngày 10/5/2018 là 9.244.300 đồng là có căn cứ, cần được chấp nhận.

Án phí dân sự: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn được chấp nhận vì vậy ông Tạ Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 40.277.800 đồng x 5% = 2.013.890 đồng (làm tròn 2.014.000 đồng)

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 235; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 281; Điều 471; Điều 474; Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005; Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP, ngày 05/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C Việt Nam - Phòng giao dịch ngân hàng Ch huyện Krông Nô .

Buộc ông Tạ Văn T phải thanh toán cho Ngân hàng C Việt Nam - Phòng giao dịch ngân hàng Ch huyện K tổng số tiền là 40.277.800 đồng, trong đó số tiền nợ gốc là: 30.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn còn lại chưa thanh toán tính đến ngày 11/5/2015 là 1.033.500 đồng, lãi quá hạn tính đến ngày 10/5/2018 là 9.244.300 đồng.

Ông Tạ Văn T còn phải chịu thêm số tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng số 6000006400030933 (Số cũ là 6401111073), ngày 20/04/2012, kể từ ngày 11/5/2018 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

[2] Án phí: Buộc ông Tạ Văn T phải nộp 2.014.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[3] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đựơc thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thu hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ