vanban.org

Bản án 08A/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho Chị Đoàn Thị Tr được ly hôn Anh Vũ Xuân Th.

Về con chung: Chị Đoàn Thị Tr và Anh Vũ Xuân Th có 01 con chung là Vũ Đoàn Minh Ph, sinh ngày 05/02/2016. Sau ly hôn, giao cho Chị Đoàn Thị Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Vũ Đoàn Minh Ph cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác. Chấp nhận sự tự nguyện của Chị Đoàn Thị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn Thị Trâm Anh-Vũ Văn Thắng"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho Chị Đoàn Thị Tr được ly hôn Anh Vũ Xuân Th.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HD
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08A/2023/HNGĐ-ST
Ngày 23/02/2023
“Về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HD

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán -Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hà;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quyết và ông Lương Đức Tuyến.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hồng Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố HD.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố HD, xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý sơ thẩm số 650/2022/TLST-HNGĐ ngày 14/12/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐST- HNGĐ ngày 06/02/2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 12/2023/QĐ-ST ngày 17/02/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Tr, sinh năm 1997; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 47 TT, phường Ng, thành phố HD, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở: Số 295 đường Th, phường H, thành phố HD, tỉnh Hải Dương (có mặt).

- Bị đơn: Anh Vũ Xuân Th, sinh năm 1995; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 47 TT, phường Ng, thành phố HD, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn Chị Đoàn Thị Tr thể hiện: Chị và Anh Vũ Xuân Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Ng, thành phố HD vào ngày 29/12/2015. Sau khi kết hôn, anh chị sống cùng với bố mẹ chồng ở 47 TT, khu 5, phường Ng, thành phố HD. Hôn nhân giữa chị và Anh Th không hạnh phúc. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm về kinh tế và lối sống. Anh Th không là chỗ dựa tinh thần và vật chất cho vợ con. Khi xảy ra bất đồng, vợ chồng thường cãi nhau, Anh Th đánh chị. Sự việc này diễn ra nhiều lần. Sau mỗi lần, Anh Th đều xin lỗi và hứa thay đổi. Lần gần đây nhất là vào ngày 27/4/2022, vì bất đồng việc đi chơi cùng nhau, Anh Th đấm đá chị. Mặc dù, chị không bị thương tích nhưng tinh thần từ đó luôn hoảng sợ. Ngay sau đó, chị và con gái đã về nhà bố mẹ đẻ ở số 295 đường Th, phường H, thành phố HD sinh sống. Gia đình hai bên khuyên giải nhiều lần nhưng chị không sống cùng Anh Th. Đến nay, chị không còn tình cảm với Anh Th. Nên chị làm đơn đề nghị Toà án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị được ly hôn với Anh Vũ Xuân Th.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Vũ Đoàn Minh Ph, sinh ngày 05/02/2016. Chị là người chăm sóc, nuôi dưỡng con từ trước cho đến nay. Nên khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu Anh Th cấp dưỡng. Hiện tại, chị là nhân viên hỗ trợ kinh doanh của Công ty Tài chính TNHH MTV H có chi nhánh ở thành phố HD, thu nhập hàng tháng từ 07-09 triệu đồng. Chị cung cấp tài liệu chứng minh là Hợp đồng lao động và sao kê tài khoản từ tháng 10/2022 đến tháng 01/2023 tại Ngân hàng TMCP KT Việt Nam chi nhánh Hải Dương.

Về tài sản chung, nợ chung, chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Theo lời khai của bị đơn Anh Vũ Xuân Th thể hiện: Anh và Chị Tr kết hôn và chung sống cùng bố mẹ đẻ anh như Chị Tr trình bày. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra cãi nhau. Nguyên nhân cãi nhau do anh uống rượu nên to tiếng, chửi mắng và đánh vợ nhiều lần nhưng không có thương tích. Từ ngày 20/5/2022, Chị Tr bế con về bố mẹ đẻ ở, không ở cùng anh. Gia đình hai bên nói chuyện nhiều lần. Anh cũng đã xin lỗi nhưng Chị Tr không đồng ý sống cùng. Nay, anh vẫn còn tình cảm với Chị Tr, biết sai và mong Chị Tr tha thứ nên anh không đồng ý ly hôn. Anh chị có một con chung như Chị Tr trình bày. Nếu phải ly hôn, ai nuôi con cũng được. Cấp dưỡng nuôi con, anh không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung, nếu vợ chồng ly hôn, anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Ý kiến của bà Lương Thị Bé (mẹ đẻ Chị Đoàn Thị Tr) thể hiện: Quá trình chung sống, vợ chồng Chị Tr không hoà thuận. Gia đình thường nhận được tin Anh Th đánh vợ. Mỗi lần như vậy, bà đón Chị Tr về nhà chăm sóc, Anh Th đến xin lỗi và hứa thay đổi nhưng thực tế không thay đổi. Hiện, mẹ con Chị Tr đang sống cùng với vợ chồng bà. Quan điểm của bà tôn trọng theo quyết định ly hôn của Chị Tr và giải quyết cho Chị Tr được nuôi con. Vợ chồng bà sẽ tạo điều kiện về chỗ ở, hỗ trợ Chị Tr chăm sóc con.

* Ý kiến của bà Nguyễn Thị Lộc và ông Vũ Xuân Chương (bố mẹ đẻ Anh Th) thể hiện: Chị Tr và Anh Th thường xảy ra bất đồng cãi nhau, Anh Th có đánh Chị Tr.Chị Tr đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, không quan tâm đến Anh Th và gia đình nhà chồng. Bản thân Anh Th biết lỗi, ông bà cũng hoà giải nhưng Chị Tr không đồng ý. Ông bà mong muốn anh chị đoàn tụ. Nếu Chị Tr cố tình ly hôn thì gia đình chấp nhận. Về con chung và tài sản, ông bà đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Kết quả xác minh tại khu dân cư số 5 phường Ng, thành phố HD thể hiện: Anh Th và Chị Tr là vợ chồng, chung sống ở khu dân cư số 5, phường Ng. Hiện tại, Chị Tr đã chuyển chỗ ở khác. Lý do vợ chồng mâu thuẫn, không sống cùng nhau, khu dân cư không rõ. Đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và các ý kiến đã trình bày.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD phát biểu quan điểm: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa tiến hành thụ lý, thu thập tài liệu chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát theo đúng quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS). Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) tuân thủ đúng quy định về trình tự tại phiên tòa sơ thẩm của BLTTDS. Nguyên đơn chấp hành, bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS. Ý kiến về giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Xử cho Chị Đoàn Thị Tr được ly hôn với Anh Vũ Xuân Th. Giao cho Chị Tr được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản, do các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Chị Tr phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, Tòa án nhận định:

. Về tố tụng: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn, nuôi con với bị đơn có nơi cư trú số 47 TT, phường Ng, thành phố HD, tỉnh Hải Dương. Nên vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố HD, quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS, HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn.

. Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị Tr và Anh Vũ Xuân Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 29/12/2015 tại UBND phường Ng, thành phố HD. Hôn nhân của Chị Tr và Anh Th là hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn bất đồng quan điểm, Anh Th thường đánh Chị Tr. Mâu thuẫn căng thẳng từ tháng 5/2022, hai người sống ly thân, mỗi người có cuộc sống riêng và không quan tâm đến nhau. Nay, Anh Th biết sai, mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Nhưng Chị Tr không còn tin yêu và không muốn chung sống cùng Anh Th. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được bố mẹ hai bên gia đình hoà giải nhiều lần. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án cũng tạo điều kiện nhiều lần hoà giải nhưng Anh Th vắng mặt không có lý do, không có biện pháp hàn gắn tình cảm hiệu quả. Xét mâu thuẫn của vợ chồng đã kéo dài, mức độ căng thẳng và trầm trọng. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu của Chị Đoàn Thị Tr, cho Chị Tr được ly hôn với Anh Th.

- Về con chung: Chị Tr và Anh Th có 01 con chung là Vũ Đoàn Minh Ph, sinh ngày 05/02/2016. Khi ly hôn, Chị Tr yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu Anh Th cấp dưỡng nuôi con, đồng thời xuất trình các tài liệu chứng cứ chứng minh về công việc, thu nhập và chỗ ở.

Xét, cháu Vũ Đoàn Minh Ph đang do mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và có nguyện vọng được ở với mẹ. Chị Tr có công việc, thu nhập ổn định và có nhà ở của bố mẹ đẻ đảm bảo về chỗ ở khi nuôi con. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con cần giao cho Chị Tr trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con là phù hợp với các Điều 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình.

Xét Chị Tr tự nguyện không yêu cầu Anh Th cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung, các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, quan hệ này Toà án không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Chị Tr phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/NQ- UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho Chị Đoàn Thị Tr được ly hôn Anh Vũ Xuân Th.

2. Về con chung: Chị Đoàn Thị Tr và Anh Vũ Xuân Th có 01 con chung là Vũ Đoàn Minh Ph, sinh ngày 05/02/2016.

Sau ly hôn, giao cho Chị Đoàn Thị Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Vũ Đoàn Minh Ph cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác. Chấp nhận sự tự nguyện của Chị Đoàn Thị Tr không yêu cầu Anh Vũ Xuân Th cấp dưỡng nuôi con.

Anh Vũ Xuân Th có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở quyền này của Anh Th.

3. Về án phí: Chị Đoàn Thị Tr phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0002454 ngày 08/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố HD (đã nộp xong).

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.

Cỡ chữ